Archive for the ‘Sáng tổ Nguyễn Lộc’ Category

Nhân Mùa tưởng niệm Sáng tổ Nguyễn Lộc lần thứ 55

Do hoàn cảnh khách quan, lễ giỗ Sáng tổ Nguyễn Lộc từ năm 1961 đến 1964 được tổ chức đơn giản. Và sau gần 1 năm hồi phục phong trào, lễ giỗ lần thứ 5 (1965) đã được Môn phái long trọng tổ chức tại Trung tâm huấn luyện Vovinam (số 61 đường Vĩnh Viễn, Saigon). Nhân dịp này, Trung tâm đã phát hành một nội san. Giá trị của nội san không chỉ đánh dấu sự hồi phục của Vovinam mà còn mở đầu cho nhiều tập sách, đặc san do Môn phái biên soạn và xuất bản sau này.

Trải qua những biến động của thời cuộc, có lẽ ít người còn lưu giữ nội san vừa nêu. Quyển của tôi cũng bị thất lạc và sau nhiều năm truy tìm, mãi đến mùa hè năm 2012, tôi mới được võ sư Trần Nguyên Đạo tặng cho 1 bản photocopie. Quyển nội san này nằm toàn bộ tài liệu, sách báo của cố võ sư Trần Huy Phong mà võ sư Nguyên Đạo đã đóng thùng và mang về Pháp từ năm 1998, sau khi võ sư Trần Huy Phong qua đời.

Nội san có 4 trang bìa và 32 trang ruột, in typo trên khổ giấy A4. Bản photo thiếu 4 trang ruột (trang 17 đến 20). Nếu đồng môn nào còn giữ trọn vẹn quyển nội san này, cho tôi xin 1 bản photo.

Trong nội san có nhiều bài viết quan trọng như: Tiểu sử cố Võ sư sáng tạo môn phái (tác giả: võ sư Mạnh Hoàng), Vài kỷ niệm sống bên Võ sư sáng tạo môn phái (Võ sư trưởng Lê Sáng), Vũ trụ quan, nhân sinh quan Việt Võ Đạo (không ghi tên tác giả), Luật Cương Nhu phối triển của Vovinam (võ sư Trần Huy Phong), Những ngày học võ với cố võ sư Nguyễn Lộc (võ sư Nguyễn Văn Thư), v.v. và đều được in lại trong những sách vở của môn phái sau này

Nội san cũng có 3 truyện ngắn: Người tài xế võ sinh (Vũ Thế), Một chuyến phiêu lưu kỳ ảo (Phạm Thị Loan)…; thơ: Việt võ sĩ ca (Trần Ích Quyền), Việt võ đạo (Lâm Ngọc Phú); một số tùy bút, ghi chép: “Đi tìm chân lý” ghi lại những suy nghĩ về mục đích học võ của các môn sinh Nguyễn Công Bình, Dương Hoành San, Phạm Văn Quang, Hoàng Bá Ước Gioanh, Trần Điền, Ngô Kim Tuyền; Gởi anh hồn cố võ sư Nguyễn Lộc (Lâm Ngọc Phú), Cảm nghĩ của nữ môn sinh Vovinam về Sứ mạng và cuộc đời (Nguyễn Thị Hằng), Lá thư gửi các bạn đồng môn (Hoàng Bá Ước Gioanh), v.v. Cá nhân tôi cũng may mắn được đóng góp vào nội san 1 truyện ngắn. Trong 12 bức ảnh (bìa 3 và 4) với chủ đề Vài nét sinh hoạt Vovinam có ảnh 4 nữ môn sinh Lam đai đầu tiên của võ đường Vĩnh Viễn: Nguyễn Thị Dung, Đàm Thị Hưng, Nguyễn Thị Hằng, Lê Thị Kim Liên (khóa 265; 25-10-1964) chụp chung với Võ sư trưởng Lê Sáng và võ sư Trần Huy Phong.

Tuy trong nội san có đề cập đến những từ Việt Võ Đạo, Việt Võ Thuật, nhưng danh xưng môn phái vẫn là Vovinam. Danh xưng Vovinam-Việt Võ Đạo được sử dụng từ năm 1966 khi Vovinam bắt đầu giảng dạy thí điểm ngoại khóa trong một số trường học ở Saigon. Và từ những hình ảnh, họ tên, đai đẳng của các môn sinh tham gia trong nội san cũng thể hiện hệ thống đẳng cấp lúc bấy giờ (Tự vệ nhập môn, Lam đai, Lam đai cao cấp, Hoàng đai, Hoàng đai I, Hoàng đai II, Chuẩn hồng đai, Hồng đai, Hồng đai I-VII, Bạch đai). Riêng bài Vũ trụ quan, nhân sinh quan Việt Võ Đạo không ghi tên tác giả, nhưng qua tìm hiểu, tôi được các đàn anh cho biết là của ông Đàm Quang Thiện – bạn văn nghệ vong niên của Sáng tổ Nguyễn Lộc. Trong nhận định về đạo sống, bài viết trên nêu rõ: “Sống (vivre), để cho người khác sống (laisser vivre) và sống cho người khác (vivre, c’est exister pour les autres). Một số tài liệu sau này, có lẽ do nhầm lẫn hay lý do nào khác nên ghi: “Sống, giúp người khác sống và sống cho người khác”. Gần đây, trong một banderole treo ở Tổ đường trong dịp Lễ Tưởng niệm Sáng tổ Nguyễn Lộc năm 2014, võ sư Nguyễn Văn Sen (thành viên Hội đồng võ sư Chưởng quản) đã hướng dẫn các em môn sinh in lại câu tóm tắt về đạo sống giống như bản gốc từ năm 1965.

Như chúng ta đều biết, lúc sinh tiền, Chưởng môn Lê Sáng đặc biệt quan tâm đến việc biên soạn, xuất bản sách vở, tài liệu. Chưởng môn từng dặn dò: “Trong võ thuật, kỹ thuật là căn bản, nhưng muốn truyền lại ngàn đời thì phải có văn”. Minh chứng cho suy nghĩ này là sau khi Nội san Vovinam 1965 ra đời, Vovinam đã xuất bản rất nhiều tập sách, đặc san. Cuối thập niên 1980, Chưởng môn tóm tắt những bài viết trong những tập sách trên để in thành tập sách Thư Chưởng môn rồi sau đó tiếp tục biên soạn một số tác phẩm khác. Bên cạnh đó, chúng ta cũng trân trọng sự đóng góp của nhiều đơn vị, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước qua một số sách, báo, tài liệu đã được phát hành.

Tuy nhiên, từ khi Chưởng môn qua đời, ngoại trừ cố gắng của vài nhóm môn đồ Vovinam, hình như công tác biên soạn, xuất bản sách vở, tài liệu chưa được quan tâm đúng mức. Thậm chí, một võ sư cao cấp còn tỏ ý băn khoăn: “Có sách kỹ thuật rồi thì ai mà theo tập”. Trên thực tế, có một số môn võ xuất bản sách kỹ thuật rất đẹp, chuẩn xác, đầy đủ bài bản, đòn thế từ A-Z, nhưng vẫn thu hút vài chục triệu võ sinh trên toàn thế giới! Vì thế, tôi ước mong các tổ chức, môn sinh Vovinam cùng nhau hiệp lực:

1. Nghiên cứu, chắt lọc, cập nhật các tài liệu về lý thuyết võ đạo theo các tiêu chí: ngắn gọn, dễ hiểu và phù hợp với thời đại.

2. Biên soạn và lần lượt xuất bản sách kỹ thuật từ trình độ thấp đến cao để thống nhất hệ thống kỹ thuật trong và ngoài nước.

3. Xuất bản đặc san hàng năm vào dịp Mùa Tưởng niệm Sáng tổ Nguyễn Lộc.

4. Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ cho sự nghiệp phát triển Môn phái. Phổ biến những tiểu luận xuất sắc để các môn sinh tham khảo.

5. Biên soạn Kỷ yếu võ sư, huấn luyện viên Vovinam.

6. Từng bước tập hợp các sách vở, tài liệu, v.v. liên quan đến Môn phái để hình thành Thư khố Vovinam.

Nửa thế kỷ đã trôi qua, giờ đây, lật lại từng trang của Nội san Vovinam 1965, tôi không khỏi bùi ngùi thương nhớ những bậc thầy, những đàn anh và bạn bè đã vĩnh viễn ra đi, đang sống ở phương xa hoặc tuổi già đau yếu, v.v.

21-5-2015
Môn đồ Nguyễn Hồng Tâm

Bìa 1 Nội san Vovinam 1965

Bìa 1 Nội san Vovinam 1965

Advertisements

Ta đã cạn nước mắt, mất tiếng cười vì cuộc đời,

Nhưng ta đã được quay về với linh hồn trắng trong, nhân hậu của NGƯỜI THỰC NGƯỜI,

Nhưng ta đã vượt khỏi lên trên những tối tăm, tội lỗi của NGƯỜI CHẲNG NGƯỜI,

Bao đớn đau tan hồn, nát xác, người đã gieo ở ta,

Ta đã được gặt hái, những bông hoa CAO ĐẸP nhất ở sự THƯƠNG YÊU và THA THỨ vô bờ…

                                                                                                              Nguyễn Lộc

Cảm nghĩ về di huấn của Sáng tổ Nguyễn Lộc

DiHuanST-VI

1. Trong gia đình Vovinam, các môn sinh không chỉ luyện võ mà còn được tham gia những buổi sinh hoạt, trao đổi, tìm hiểu về môn phái. Theo các bậc đàn anh, Sáng tổ Nguyễn Lộc rất yêu văn nghệ và thường giao lưu với giới văn nghệ sĩ. Ông nhảy thiết hài (1) rất nhuyễn. Từ khi nhuốm bệnh (cuối năm 1957) đến lúc sắp từ giã cõi đời (1960), Sáng tổ thường dùng màu nước để vẽ tranh trên những nắp chum và vẫn tiếp tục sáng tạo Vovinam qua ngòi bút.

Bên cạnh những lời tâm huyết dành cho vài môn đệ cao cấp về căn bản kỹ thuật, đường hướng phát triển, ông còn giảng giải hoặc đưa các bài viết khác về kỹ thuật và tư tưởng Vovinam cho một số văn nghệ sĩ thân thiết đọc nhằm mục đích tiếp tay quảng bá môn phái. Tuy nhiều người đã đề nghị phổ biến rộng rãi những bài viết này, nhưng Sáng tổ đã mang ra đốt tất cả, vì ông không muốn những học trò của mình xem đây là “khuôn vàng thước ngọc”, từ đó có thể làm hạn chế sự phát triển, tính sáng tạo của lớp hậu sinh mà chủ trương của Vovinam là sáng tạo, là phải luôn tự đổi mới bản thân.

Một võ sư đàn anh cũng nhấn mạnh: “Tuy Sáng tổ luôn khuyến khích các môn đệ phải thường xuyên học hỏi để mở rộng kiến thức tổng quát, nâng cao trình độ văn hóa, trau dồi nghề nghiệp, nhưng các chú không nên hiểu quan niệm “văn-võ song toàn” của Sáng tổ là bắt buộc môn đệ phải có học vị cao. “Văn” trong quan niệm “văn-võ song toàn” của Sáng tổ là văn chương nghệ thuật (văn, thơ, nhạc, kịch, hội họa, v.v.) nói chung chứ không đơn thuần là học vị. Một mặt, nó nhằm đả phá thành kiến “trọng văn, khinh võ” từ ngàn xưa; mặt khác, nó cũng giảm bớt sự cương cường, cục mịch của người tập võ và hóa giải lời ví von “vai u thịt bắp” nhắm vào giới lao động tay chân, trong đó có những người luyện võ”.

Sau khi Sáng tổ sớm từ giã cõi đời, gia đình và các môn đệ đã tìm được một số di cảo của ông, trong đó có đoản văn gồm 5 câu với 76 chữ mà Sáng tổ đã tự tổng kết cuộc đời mình. Đoản văn đó, sau này lớp hậu sinh thường gọi là di huấn của Sáng tổ.

Hơn 15 năm trước, di huấn của Sáng tổ đã được treo phía sau bàn làm việc của Chưởng môn Lê Sáng (tầng 2 Tổ đường, 31 Sư Vạn Hạnh, Q. 10, TPHCM). Hạ tuần tháng 6-2011 vừa qua, võ sư Nguyễn Văn Sen đã đề nghị võ sư Vũ Trọng Bảo thiết kế lại di huấn trên cùng với di huấn của Chưởng môn Lê Sáng theo thư pháp thật đẹp mắt. Hai bản in đã được lộng kính và đặt trang trọng nơi phòng thờ Sáng tổ.

Bằng tấm lòng thành của một môn đồ Vovinam, tôi bày tỏ một vài cảm nghĩ ban đầu về di huấn của Sáng tổ để cùng nhau tham khảo. Những cảm nghĩ cá nhân này cũng chính là một bản tự kiểm điểm để soi rọi lại bản thân mình!

2. Sáng tổ Nguyễn Lộc sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nước Việt Nam còn bị người Pháp đô hộ. Chẳng những không bị cám dỗ trước nhiều chiêu bài mà thực dân Pháp dùng để ru ngủ thanh niên trong xã hội đương thời, Sáng tổ đã đau đớn đến mức phải thốt lên: “Ta đã cạn nước mắt, mất tiếng cười vì cuộc đời” khi phải chứng kiến và gánh chịu biết bao cảnh đời đen bạc, thế sự đảo điên. Chỉ cần dùng vài cụm từ đơn giản “cạn nước mắt”, “mất tiếng cười”, Sáng tổ đã bộc lộ cảm xúc, nỗi đau mà mình từng trực tiếp hoặc gián tiếp nếm trải đã dâng lên đến tột đỉnh.

Nhưng “ta” đây, đâu chỉ riêng cá nhân Sáng tổ, mà “ta” đây còn bao gồm cả loài người. Nếu cuộc đời này không là “bể khổ” thì từ ngàn xưa đã không xuất hiện các bậc thánh nhân, vĩ nhân hy sinh trọn cuộc đời mình để suy tư, dấn thân tìm đường giải thoát, cứu rỗi cho nhân loại thông qua nhiều triết thuyết.

Ngược dòng lịch sử, những năm đầu thế kỷ 19, đại thi hào Nguyễn Du đã cất tiếng than:

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Đã gọi là bể khổ thì mênh mông vô cùng! “… Đó là hình ảnh sinh lão bệnh tử đầy bi thương phi lý ở bốn cửa thành đập vào mắt Thích Ca; đó là thảm trạng phong hóa suy đồi đã dằn vặt Khổng, Lão; và đó cũng là nỗi đau khôn xiết của Platon khi tận mắt chứng kiến cái chết oan khuất của thầy mình. Ông không thể hiểu và suốt đời không nguôi trước câu hỏi tại sao một con người tốt lành, tử tế như Socrates lại phải bị bức tử, và vì thế, dành cả đời mình để đi tìm một cách tổ chức khác, một trật tự khác bảo đảm cho một cuộc sống công bằng và đáng sống…” (Bùi Văn Nam Sơn). Ngay cả Thiên Chúa – đấng sáng tạo ra con người (theo đức tin của tín đồ Thiên Chúa giáo) cũng “hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất,Người buồn trong lòng” (Sáng thế ký) trước sự sa ngã của con người.

Đó cũng là lý do vì sao Thái tử Tất Đạt Đa (Siddartha) đã rời bỏ cung vàng, điện ngọc, cuộc sống vinh hoa, quý phú hoặc Đức Jesus đã phải tử nạn trên cây thánh giá, v.v. Tất cả cũng vì “bể khổ” của con người…

3. Trong lúc phải đối mặt với cuộc đời đầy rẫy những điều “bất như ý” như thế, khoảng thời gian lấy kỹ thuật vật (một trong những bản năng của con người) làm căn bản để sáng tạo nên Vovinam chính là lúc Sáng tổ được “quay về với linh hồn trắng trong, nhân hậu” hay nói khác đi là quay về với tuổi thơ. Đây là lứa tuổi mà người Việt Nam thường gọi là tuổi thần tiên, người phương Tây gọi là tuổi thiên thần; hoặc theo như quan niệm của Nho giáo: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện”.

Ở lứa tuổi này, tâm hồn của các cậu bé, cô bé vẫn còn “trắng trong” và rất hồn nhiên. Các cô các cậu có thể dỗi hờn trong chốc lát rồi lại cùng nhau vui đùa. Lứa tuổi mà các cô các cậu đối xử với nhau cũng như đối xử với những người xung quanh bằng tấm lòng “nhân hậu” (chưa biết oán thù mà cũng chẳng ganh ghét, ruồng bỏ ai, v.v.) của một con “NGƯỜI THỰC NGƯỜI” chứ chưa bị tiêm nhiễm thói đời như khi đã lớn khôn.

Nhưng vì sao Sáng tổ lại dùng cụm từ “linh hồn trắng trong” chứ không dùng cụm từ “tâm hồn cao thượng”, “tâm hồn trong trắng” như người đời vẫn thường dùng? Theo Từ điển Hán – Việt của cố học giả Đào Duy Anh, linh hồn là tinh thần hoặc tâm ý, hiểu theo tôn giáo thì linh hồn là cái thần linh cai trị thể xác con người.

Kiều rằng: Những đấng tài hoa,

       Thác là thể phách, còn là tinh anh.

                                              (Nguyễn Du)

Cái chết chỉ là phần thân xác (thể phách), nhưng tinh anh (phần tinh túy, tốt đẹp nhất) của con người vẫn tồn tại. Như vậy, nếu linh hồn là tinh thần hay tâm ý thì khi dùng từ linh hồn, Sáng tổ đã dụng ý nhấn mạnh đến lương tâm con người lúc còn sống – biết phân biệt đúng, sai; vui lúc làm được việc tốt, biết cắn rứt mỗi khi làm việc xấu – chứ không chỉ là phần tinh anh lúc đã qua đời.

“Quay về với linh hồn trắng trong, nhân hậu của NGƯỜI THỰC NGƯỜI” cũng chính là con đường mà Sáng tổ hướng các môn đệ đến chân – thiện – mỹ trong cuộc sống. Linh hồn trắng trong biểu tượng cho sự chân thật, không giả dối; chân thật, không giả dối đồng thời cũng là cái đẹp (mỹ). Sống có lòng nhân hậu, biết thương yêu, làm chuyện tốt lành, hợp với đạo đức là thiện. Và tất nhiên, sống đẹp cho ra người thực người cũng là biểu tượng của mỹ và chân.

Chân – thiện – mỹ còn là quan niệm sống của người môn sinh Vovinam: “Sống, để người khác sống và sống cho người khác”. “Sống” cho ra sống (khỏe mạnh, tràn đầy nhựa sống, minh mẫn, v.v.) là sống thật (chân). Tuy nhiên, khi bản thân mình sống khỏe, sống đẹp thì không được dùng sự vượt trội đó lấn át, xen vào quyền sống của người khác, mà phải “để người khác sống” theo quy luật phát triển của từng bản thân mỗi người và xã hội (thiện). Song song đó, luôn sẵn sàng giúp đỡ, hy sinh cho người khác khi cần thiết hoặc có yêu cầu đúng đắn, hay nói khác đi là “sống cho người khác” cũng chính là nét đẹp (mỹ) của người môn sinh Vovinam.

4. Khi “được quay về với” tuổi thiên thần như vậy, Sáng tổ đã nhận thức được đâu là những giá trị chân chính của một con “NGƯỜI THỰC NGƯỜI”. Từ đó, ông không thể sống, không thể hành xử như những điều đang thường gặp trong cuộc đời. Ngược lại, trong cái vòng quay đó, ông còn đã “vượt khỏi lên trên những tối tăm, tội lỗi của” những “NGƯỜI” nhưng “chẳng” (ra) “NGƯỜI” với biết bao sự sa ngã, vô nhân, cổ hủ, câu chấp, v.v. Dù ông vẫn sống chan hòa trong sự vây quanh của không ít “NGƯỜI CHẲNG NGƯỜI”, nhưng ông không bị cuốn vào vòng xoáy của cuồng phong, bão táp đó mà ông đã thăng hoa, “vượt khỏi lên trên” như cánh sen để nhìn xuống biết bao sự giả tạo, phi lý của cuộc đời…

Vậy làm thế nào để “vượt khỏi lên trên” như một cánh sen ngát hương. Qua sự sáng tạo Vovinam, ông đã tìm ra một con đường, đó là từng môn sinh Vovinam phải thường xuyên tự rèn luyện “tâm trí và thể tạng” để ngày càng tiến bộ hơn. Sự rèn luyện này tuy đơn giản và không có gì to tát vì tùy thuộc bản thân của mỗi người, nhưng nó đòi hỏi rất nhiều nghị lực đồng thời mang một ý nghĩa rất lớn lao – bản thân mỗi người tốt đẹp hơn, ắt xã hội sẽ tốt đẹp hơn.

Trong hành trình rèn luyện “tâm trí và thể tạng”, điều tiên quyết là người môn sinh Vovinam cần có tinh thần kỷ luật tự giác. Kỷ luật tự giác không chỉ là sự hiểu biết và tự nguyện thực hiện nội quy của một tổ chức, pháp luật và đạo đức của xã hội mà còn tự giác rèn luyện bản thân. Ai có thể giúp chúng ta vượt qua sự hèn yếu của tâm hồn lẫn thể xác nơi bản thân mình nếu không phải do chính ta tự giác thường xuyên rèn luyện? Vì vậy, ngạn ngữ Pháp mới có câu “Aide-toi, le ciel t’aidera” (Tự giúp mình rồi trời sẽ giúp cho) hoặc quan niệm “Tận nhân lực, tri thiên mệnh” của triết học phương Đông.

Tuy gạn lọc được những cái xấu để không bị tiêm nhiễm và “vượt khỏi lên trên” những thị phi nhưng Sáng tổ vẫn không tách rời thực tế mà ông hiểu sâu sắc sự vận động, biến đổi, phát triển của xã hội, của con người. Thế nên, dù khắt khe về kỹ thuật nhưng tư tưởng và phương pháp huấn luyện của ông rất thông thoáng, không gò bó, tôn trọng và tin yêu các môn đệ. Điều này được minh chứng khi võ sư Lê Văn Phúc (tập Vovinam với Sáng tổ năm 1951 tại Hà Nội) từng thuật lại một số lời dạy của Sáng tổ:

“… Các chú (2) phải thay đổi lề lối làm việc cho thích ứng với mọi hoàn cảnh, tân tiến mọi tổ chức để môn phái sau này khoa học hơn, mới mẻ hơn. Nếu các chú thấy được điều anh làm chưa hoàn mỹ, thì có bổn phận sửa đổi cho tốt đẹp hơn. Phương pháp anh áp dụng còn thiếu sót thì các chú phải thay đổi cho hoàn bị hơn…”. (3)

Lời dạy này của Sáng tổ đâu chỉ bộc lộ sự chân tình, tư tưởng dân chủ, không độc đoán, không áp đặt, và không kềm hãm sự phát triển của các môn đệ mà đặc biệt nó còn thể hiện đức khiêm tốn rất đáng quý của người thầy. Thế nên, những ý kiến khác nhau khi tranh luận vì sự lợi ích của tập thể, lợi ích của môn phái là chuyện rất bình thường và cần thiết. Hoặc cũng có thể hình thành một nhóm người hợp ý nhau để cùng làm việc, cùng “dấn thân, hiến ích” (4) cho môn phái, cho xã hội. Tuy nhiên, cấu kết phe phái để vinh danh, đạt lợi, phá rối lẫn nhau, chèn ép cấp dưới và cô lập, gây khó khăn những người không đồng quan điểm với mình là điều không nên. Hay nói như Đức Phật Thích ca là phải tránh tham, sân, si.

5. Khi đã “vượt khỏi lên trên” cái lằn ranh mong manh giữa chính-tà, phải-trái, thì dẫu cho cuộc đời này vẫn tiếp tục phũ phàng gieo “nơi” Sáng tổ (và loài người) biết bao “đớn đau” đến “tan hồn, nát xác”, ông thanh thản và nhẫn nhịn vì “Chúng ta có thể không sống với các thiên thần nhưng chúng ta phải sống giữa con người” (Tzvetan Todorov). Vậy đâu là lối thoát của ông? Đó là hành xử bằng tất cả “sự THƯƠNG YÊU và THA THỨ vô bờ”. Bởi lẽ, chỉ có “THƯƠNG YÊU và THA THỨ” tức là can đảm gạt bỏ được sự vị kỷ để yêu những cái tốt và cả những cái xấu của tha nhân thì mới có thể giải tỏa mọi mâu thuẫn, đồng thời khi bao dung như vậy mới có thể hội nhập cùng mọi người. Chan hòa với mọi người cũng giúp bản thân mình sống thanh thản hầu vượt qua biết bao nỗi thống khổ của cuộc đời. Và chỉ khi tuổi đời ngày càng chồng chất, tóc đã pha sương mới càng cảm nhận và càng thấm thía điều này… Tục ngữ có câu:

Thương nhau trái ấu cũng tròn,

Ghét nhau bồ hòn cũng méo.

Không chan hòa, không nhẫn nhịn, không yêu thương thì lấy đâu ra sự cảm thông và hợp tác? Có người từng cho rằng: “Tha thứ là điều khó khăn nhất nhưng cũng là điều cao cả nhất”. Thật ra, khi bao dung cho tha nhân cũng chính là tự kiểm, tự tha thứ cho bản thân mình, vì trên thế gian này chẳng có ai tránh được lỗi lầm và chưa từng gây khổ đau cho người khác! Nhiều người cho rằng, nếu bản thân mỗi người chịu khó tự kiểm về những suy nghĩ, lời nói, hành vi trong ngày của mình một lần trước lúc ngủ để thức tỉnh thì cuộc đời này sẽ giảm đi rất nhiều đau khổ.

6. “THƯƠNG YÊU và THA THỨ” cũng là bài học đầu tiên của người môn sinh khi bắt đầu bước chân vào gia đình Vovinam thông qua nghi thức “nghiêm lễ” (chào nhau và sau này dùng để bái tổ khi Sáng tổ đã qua đời). Nghiêm lễ biểu hiện cho sự cương mãnh và tấm lòng từ ái của người môn sinh Vovinam. Bàn tay tượng trưng cho cương, tức sự cứng rắn như đao. Đao đặt trên trái tim diễn tả một sự hiểm nguy đang kề cận, nhưng môn sinh Vovinam vẫn phải chấp nhận, bình tĩnh và chịu đựng vì sống trong cõi trần này thì không sao tránh được biết bao chuyện “chướng tai, gai mắt”. Có chịu đựng, có nhẫn nhịn và sáng suốt thì con người mới có thể trải rộng tấm lòng để thông cảm và tha thứ cho nhau.

Thật chí lý khi một nhà tư tưởng nào đó từng nói đại ý: “Hạnh phúc của con người nằm trong chữ nhẫn”. Trong thực tế cuộc sống đã có không hiếm trường hợp chỉ một phút thiếu kiềm chế thôi, chúng ta có thể làm mất một tình bạn thân thiết, làm đỗ vỡ một tình yêu đầm ấm, v.v. Đối với người lãnh đạo và các bậc đàn anh, “THƯƠNG YÊU và THA THỨ” còn mang ý nghĩa rất quan trọng, vì “Có dung kẻ dưới mới là lượng trên” (Nguyễn Du).

Chính trong lúc chịu đựng những đớn đau tột cùng, cái “NGƯỜI THỰC NGƯỜI”, sự nhẫn nhịn của Sáng tổ (nhân) đã nảy sinh và giúp ông “được gặt hái những bông hoa CAO ĐẸP nhất” (quả). Cuộc đời Sáng tổ từ thời trai trẻ cho đến khi lìa trần chỉ có mục tiêu duy nhất là Vovinam. Vậy “bông hoa CAO ĐẸP nhất” Sáng tổ đã “được gặt hái” là gì nếu không phải là Vovinam mà ông dành biết bao tâm huyết và dày công vun đắp? Đối với ông, Vovinam không đơn thuần là một môn võ tự vệ. Sáng tổ kỳ vọng, từ nền tảng võ thuật và võ đức, Vovinam sẽ góp phần đào tạo những con người Vovinam tương đối toàn diện (có tài, có đức, khỏe mạnh, v.v.) để phục vụ môn phái và xã hội.

Võ thuật và võ đức Vovinam (nên chăng gọi chung là võ học Vovinam) có mối quan hệ từ việc nhỏ đến việc lớn. Một cặp (đôi) môn sinh Vovinam cùng nhau tập luyện và giao tiếp chân tay sẽ nảy sinh cảm xạ, có cảm xạ thì có cảm ứng, đó là tình cảm giữa con người với con người. Từ tình cảm và võ thuật cùng lúc biến thành đức hạnh rồi cả ba thứ đó kết hợp với nhau thành tình Vovinam. Và từ trước đến nay, chúng ta vẫn mang căn bản tình Vovinam để đối nhân xử thế.

Khi đã tự giác về đức hạnh, người môn sinh sẽ tự cố gắng ôn luyện cho đòn thế chính xác, thuần thục hơn để “làm chủ” được sức mạnh và sự hiệu nghiệm của nó nhằm không gây nguy hiểm cho đồng môn và cả trong lúc bắt buộc phải tự vệ. Cố công rèn luyện kỹ thuật đến mức linh hoạt, sử dụng đúng nơi, đúng lúc cũng là con đường hướng đến chân – thiện – mỹ. Nói khác đi, luyện tập Vovinam nhằm mục đích khỏe mạnh, phát triển nhân cách, từng bước hoàn thiện bản thân và chỉ dùng võ trong trường hợp bắt buộc phải tự vệ chứ không nhằm mục đích tranh chấp với người khác…

Bước chân vào gia đình Vovinam, người môn sinh sẽ được thấm dần sự “THƯƠNG YÊU và THA THỨ” thông qua phương pháp, thời gian luyện võ và sinh hoạt môn phái. Sự “THƯƠNG YÊU và THA THỨ” này sẽ lớn dần và thâm sâu sau những năm tháng khổ luyện để có thể vươn đến lý tưởng cuối cùng là “THƯƠNG YÊU và THA THỨ vô bờ”.

7. Trong những lần trao đổi về mối quan hệ giữa võ đức và võ thuật Vovinam, một võ sư đàn anh đã giải thích thêm: “Vật là căn bản của Vovinam, tuy có những đòn thế rời nhằm hóa giải, khắc chế với những biến cố mà người đời có thể nhắm vào mình, nhưng số đòn thế này chỉ để làm phong phú thêm các hình thức phòng thủ. Do đó, tất cả những phương pháp tập luyện, những động tác trong Vovinam đều nhằm phục vụ và kiện toàn cho VẬT. Vật chỉ là một cách nói khi đánh ngã đối phương, cho nên có thể sử dụng tất cả những bộ phận của thân thể (tay, chân, hông, vai, v.v.) để vật khi tiếp cận hoặc ở xa. Cách vật bằng chân (quặp cổ – từ của Sáng tổ Nguyễn Lộc đặt tên cho các thế dùng chân quặp cổ rồi vật ngã đối phương) là lối vật đặc thù và cao cấp nhất của Vovinam. Vật bằng chân rất nguy hiểm cho cả 2 bên nên phải cần tập luyện thuần thục về căn bản kỹ thuật Vovinam mới có thể sử dụng nó trong trường hợp bất khả kháng vì Vovinam rất chú trọng đến võ đức”. Cũng chính vì thế, các thế vật bằng chân này đã được biến cải cho đẹp mắt và bớt nguy hiểm, chủ yếu chỉ dùng để biểu diễn.

8. Đoản văn mà Sáng tổ tự tổng kết cuộc đời mình vừa nêu trên chính là lời dạy dành riêng cho gia đình Vovinam. Lời dạy này đã vạch ra một con đường để mỗi thành viên trong gia đình Vovinam tự phấn đấu, rèn luyện võ thuật lẫn võ đức; từ đó ngày một tiến bộ hơn hầu phục vụ môn phái và dân tộc.

Nhân đây, nên chăng cần phân biệt 2 từ: môn sinh và môn đồ. Môn sinh là người đang sinh hoạt trực tiếp còn môn đồ là những người không sinh hoạt trực tiếp nhưng đã trải qua vài năm tập luyện và lòng vẫn luôn luôn thiết tha với môn phái, thường xuyên nghiên cứu, quảng bá Vovinam, v.v. Nhưng dù môn sinh hay môn đồ, tất cả những người Vovinam vẫn luôn được kết nối với môn phái, với các đồng môn bằng một tình cảm rất đặc biệt và rất thân thiết – “tình Vovinam”.

Nếu cứu cánh là mục đích cuối cùng thì theo Sáng tổ, “THƯƠNG YÊU và THA THỨ vô bờ” là cứu cánh của người Vovinam.

1/6 – 31/7/2011

Môn đồ Nguyễn Hồng Tâm

—————————————————————————————————

(1) Thiết hài (claquette) – tên một lối nhảy rất thịnh hành trong khoảng thập niên 1930-1960. Người nhảy (thường là thanh, thiếu niên) mang một đôi giày đế sắt hoặc có gắn những miếng sắt nhỏ nên lúc nhảy sẽ vang lên những âm điệu lách cách, lách cách. Có thể biểu diễn lối nhảy này một mình hay nhiều người.

(2) Thời Sáng tổ dạy võ, ông buộc học trò gọi ông bằng anh Lộc và xưng em (tình huynh đệ, nghĩa thầy trò). Từ “thầy trò” chỉ xuất hiện thời Võ sư trưởng Lê Sáng trực tiếp huấn luyện cho những môn sinh mới nhập học từ năm 1958.

(3) Đặc san Vovinam 1971.

(4) Chưởng môn Lê Sáng (1920-2010).

Đầu tháng 12-2000, một đoàn võ sư, HLV Vovinam từ TPHCM đã vượt chặng đường dài gần 1.800 km ra huyện Thạch Thất (trước đây thuộc tỉnh Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Hà Tây) tập huấn cho lớp Hướng dẫn viên các tỉnh phía Bắc lần thứ 2. Đây cũng là lần đầu tiên, chúng tôi có dịp về thăm quê hương Sáng tổ Nguyễn Lộc sau nhiều năm mong ước. Ấn tượng và cảm xúc nhất trong chuyến đi đó là cuộc biểu diễn trước dân làng Hữu Bằng vào chiều ngày 9-12.

Cuộc biểu diễn đầy cảm xúc

Dù 15 giờ buổi biểu diễn mới khai cuộc, nhưng từ 13 giờ tại sân bóng chuyền trước cổng Ủy ban nhân dân xã, khán giả đã bắt đầu tề tựu. Khi đoàn chúng tôi đến nơi, hàng ngàn người đã hiện diện, háo hức, đợi chờ. Không còn một chỗ chen chân, một số người đến muộn phải trèo lên cây hoặc tập trung ở balcon các phố lầu chung quanh. Hai banderole xiển danh Sáng tổ Nguyễn Lộc và chào mừng đoàn căng dọc hai bên sân.

Dân làng Hữu Bằng trên đường đi xem biểu diễn Vovinam (12-2000)

Mở đầu cuộc biểu diễn, lần đầu tiên tiểu sử Sáng tổ được đọc lên vang dội tại quê hương ông. Và khi những đòn chân cơ bản, các bài đơn luyện, đa luyện, tự vệ nữ, quyền tập thể, nhào lộn … được các HLV ở TPHCM và một số học viên lớp tập huấn thi triển, các tràng pháo tay cứ liên tục vang lên. Người xem không chỉ có học sinh, thanh niên mà còn đông đảo cụ ông, cụ bà và tất cả điều thích thú trước “sản phẩm” độc đáo của người đồng hương. Nhiều tiếng hô to khen ngợi: “Thật tuyệt vời!”, “ Khéo quá!”… Khi bài song luyện vật được trình bày, nhiều tiếng trầm trồ lại nổi lên: “Đòn bốc đôi đấy!”,  “Miếng sườn này đánh khéo quá!”, “Cú ngáng chân kia sao giống vật làng mình thế!”… Lòng tự hào về truyền thống quê hương của người xem thêm một lần được đánh thức, bởi Sáng tổ Nguyễn Lộc đã lấy các thế miếng của vật dân tộc làm nòng cốt để sáng tạo nên môn Vovinam tại Hà Nội vào năm 1938.

Cuộc biểu diễn kết thúc, nhiều khán giả vẫn còn nán lại, nuối tiếc thời gian sao trôi nhanh qua! Một số thanh niên ùa đến “truy vấn” Ban tổ chức: “Bao giờ lớp Vovinam mới mở tại đây?”. Vài cụ ông vừa đi, vừa nói: “Đông và vui chẳng khác gì ngày hội làng bác ạ!”. Còn một HLV tham gia biểu diễn bày tỏ: “Từng mang chuông đi gióng xứ người ở Thái Lan, Đức và Pháp, nhưng chưa bao giờ em thấy vinh dự như hôm nay khi được ra mắt đồng bào tại quê hương Sáng tổ. Tuy rất hồi hộp, em vẫn cố gắng hết sức mình để phục vụ dân làng và đền ơn Sáng tổ”. Thế nên, dù quà lưu niệm chỉ là những chiếc khăn nhưng từng anh em trong đoàn đều trân trọng đón nhận, bởi chúng là sản phẩm từ nghề truyền thống của Hữu Bằng.

Trong lần biểu diễn này, chúng tôi được gặp những cụ môn sinh học năm 1947 như: Nguyễn Đình Hồng (79 tuổi), Nguyễn Văn Bút, Phan Văn Bốc, Nguyễn Đình Vy (78 tuổi), Nguyễn Đình Tôn, Nguyễn Đình Rinh (72 tuổi) … Cuộc hội ngộ giữa các thế hệ môn sinh tại quê hương cố võ sư Sáng tổ thật xúc động và đầy tình thân ái. Các cụ sắp bước sang tuổi bát tuần, các võ sư đang ở tuổi trung niên, còn những HLV mới xấp xỉ 30. Vượt qua hàng rào tuổi tác, tình đồng môn đã đưa 3 thế hệ thân thiết nhích lại gần nhau qua những nụ cười, những cái bắt tay thật chặt, các pô hình kỷ niệm, vài bài thơ trao tặng nhau … Cụ Nguyễn Đình Tôn còn đọc lại bài hát “Đời trai tráng” mà Sáng tổ Nguyễn Lộc đã yêu cầu lớp tập thời ấy hát để tạo khí thế trước khi bắt đầu buổi tập để tặng đoàn:

“Đời trai tráng như thân tùng,

Trong gió sương, không chút gì yếu lòng.

Đời trai trang bao nguồn sống,

Mang sức tài đọ cùng núi sông…”

Ba thế hệ môn sinh hội ngộ tại Hữu Bằng

Có lẽ từ bài hát này mà khoảng giữa tập niên 1960, võ sư Cao Văn Cát đã cải biên thành bài “Viê5t võ sĩ ca”. Các cụ cũng không quên nhờ đoàn chuyển lời chúc sức khỏe đến thầy Lê Sáng. Trước lúc tạm biệt, đoàn đã đến thăm gia đình ông Nguyễn Đình Ngọc (một người cháu họ của Sáng tổ). Trong lúc trò chuyện vui vẻ, thân mẫu của ông Ngọc (trạc chừng chưa đến 80 tuổi) cho biết: “Anh Lộc và tôi cùng tuổi đấy, tiếc rằng anh ấy mất sớm quá!”. Sau đó, ông Ngọc đưa chúng tôi ra tận nghĩa trang để thắp hương trước mộ cụ thân sinh Sáng tổ. Mộ cụ Nguyễn Đình Xuyến nằm giữa nhà mồ, hai phần còn lại dành cho Sáng tổ và mẹ ông. Trên đường về, ông Ngọc xúc động nói: “Nhờ Vovinam mà dòng họ chúng tôi được rạng danh như hôm nay”…

Quê hương Nủa Chợ, Hữu Bằng trang

Dù thời gian không nhiều, nhưng chúng tôi cũng được nghe các bô lão nói sơ lược về vùng đất Hữu Bằng. Xã Hữu Bằng (giáp các xã Bình Phú, Thạch Xá, Phùng Xá và Dị Nậu) thuộc huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây; cách thủ đô Hà Nội trên 20 km. Theo một vị bô lão trong xã, ngày trước khu vực này có tổng Nủa bao gồm: Nủa Tràng (tức xã Tràng Sơn ngày nay), Nủa Bừa (chuyên sản xuất bừa, nay là 2 xã Vĩnh Lộc và Phùng Xá) và Nủa Chợ (vì nơi đây có ngôi chợ, nay là xã Hữu Bằng). Cùng với Đình Bảng và Ninh Hiệp thuộc tỉnh Bắc Ninh, Hữu Bằng nằm trong danh sách 3 xã giàu nhất các tỉnh phía Bắc thời bao cấp.

Nghề truyền thống của làng là dệt vải. Từ hơn 10 năm nay, đa phần người dân chuyển sang làm dịch vụ và sản xuất tiểu thủ công nghiệp (may mặc, đóng bàn, ghế, gường, tủ …). Trong làng có cả cửa hàng bán xe gắn máy trong lúc nghề nông chỉ chiếm độ 15%. Tuy diện tích chỉ có 180 ha, nhưng mật độ dân số Hữu Bằng thuộc vào hạng đông nhất các tỉnh phía Bắc với gần 13.000 nhân khẩu. Từ tục lệ của nhiều nơi ở phía Bắc quy định – trai, gái trong làng khi lấy vợ, lấy chồng phải lát gạch vài mét đường đi – nên hầu hết các nẻo đường trong xã Hữu Bằng đều sạch sẽ, hai bên là phố trệt, phố lầu san sát. Bao bọc khu dân cư là những cánh đồng. Thời phong kiến, làng Hữu Bằng từng được vua Tự Đức ban tặng 4 chữ vàng: “Mỹ tục khả phong”, sản sinh 3 – 4 vị Tiến sĩ và khá nhiều vị Cử nhân. Đình làng được xây dựng cách nay khoảng 300 năm. Từ đầu thế kỷ 20, vùng đất này cũng là quê hương của Nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Văn Đàn, Sáng tổ Vovinam Nguyễn Lộc, Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên …

Trước đó (chiều 4-12) đoàn Vovinam gồm các võ sư Nguyễn Văn Chiếu, Nguyễn Văn Ký, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Tấn Thịnh, HLV Võ Danh Hải, Dương Thanh Tiến, Nguyễn Văn Cường, Hồ Chí Hải, Phạm Thị Phượng, Nguyễn Thị Kim Cúc và tôi đã cùng lãnh đạo Vụ TDTT quần chúng (Ủy ban TDTT), Sở TDTT Hà Tây, Trung tâm TDTT huyện Thạch Thất đến thăm thân nhân Sáng tổ Nguyễn Lộc.

Tại ngôi nhà cũ của cụ ông Nguyễn Đình Xuyến – phụ thân Sáng tổ Nguyễn Lộc, đoàn đã gặp và trò chuyện thân mật cùng 2 người cháu gọi ông Nguyễn Lộc bằng bác họ là Nguyễn Đình Thoang (62 tuổi) và Nguyễn Đình Ngọc (42 tuổi). Qua lời giới thiệu của 2 ông, đoàn cũng đã tìm gặp cụ Phan Văn Nhân (78 tuổi) – một trong những môn sinh Vovinam năm 1947 khi Sáng tổ cùng gia đình và một số môn đệ tâm huyết từ Hà Nội tản cư về đây. Ngạc nhiên và xúc động trước cuộc thăm viếng bất ngờ này, cụ Phan Văn Nhân đã kể lại một vài chi tiết về lớp võ cách nay 53 năm: “Độ 4 giờ chiều, non 100 trai làng tập trung lại vườn phơi vải của cụ Ước để tập luyện đến tối. Trực tiếp đứng lớp là thầy Lê Sáng và thầy Nguyễn Đình Nhân, còn thầy Nguyễn Lộc hôm nào cũng có mặt nhưng chỉ ngồi quan sát và nhắc nhở. Vài tháng sau, do tình hình thời cuộc, thầy Lộc tản cư sang nơi khác nên lớp dần dần ít đi rồi giải tán. Số học trò ngày đó hiện nay chỉ độ mươi người”.

Nhà thờ họ Nguyễn Đình (Hữu Bằng, Thạch Thất,12-2009)

 

Từ đốm lửa hôm nay

Sáng 5-12, theo lời mời của Ban tổ chức, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hữu Bằng, ông Thoang, ông Ngọc và 2 học trò cũ của võ sư Sáng tổ là Phan Văn Nhân và Phan Văn Cửu (78 tuổi) đã đến dự lễ khai mạc lớp tập huấn. Lớp quy tụ 42 học viên của 9 tỉnh, thành và ngành) đã bắt đầu tập luyện vào tối ngày 4-12 và bế mạc vào sáng 10-12. Tất cả các anh em đều rất cố gắng ôn luyện 3 buổi/ngày và quyết tâm mở lớp khi trở về địa phương. Sau lễ bế mạc, cuộc trò chuyện giữa võ sư Nguyễn Văn Chiếu và vài cựu môn sinh năm 1947 cũng được ghi hình cẩn thận.

Một lớp tập Vovinam tại Hữu Bằng

Bất ngờ duy nhất là tuy Nủa Chợ đã sản sinh ra Sáng tổ Nguyễn Lộc nhưng do hoàn cảnh lịch sử nên hiếm có người biết đến Vovinam. Thậm chí, lớp tập huấn tại Thạch Thất cũng chẳng thấy một thanh niên nào của Hữu Bằng tham dự. Nhưng sau cuộc biểu diễn vừa qua, hy vọng mọi việc sẽ thay đổi.

Lần đầu tiên đến phía Bắc và được về thăm quê hương Sáng tổ, chuyến đi đã lưu lại trong lòng tôi nhiều cảm xúc và kỷ niệm đáng nhớ. Hy vọng từ đốm lửa hôm nay sẽ thắp lên ngọn lửa lớn cho phong trào Vovinam các tỉnh phía Bắc và tỏa sáng ở tương lai…

Trung tuần tháng 12-2000

Môn đồ Thiện Tâm

Mái đình làng Hữu Bằng, xây dựng trên 300 năm (12-2000)

Tin vui từ Hữu Bằng

Theo thư của bác Phan Văn Cửu từ Hữu Bằng gởi vào, cuộc biểu diễn của các HLV TPHCM đã được tất cả khán giả ca ngợi, rất nhiều người luyến tiếc vì không được xem và còn bảo nhau rằng: “Không biết đến bao giờ các anh ấy lại về đây biểu diễn? Tiếc quá!”. Được sự hỗ trợ của Sở TDTT Hà Tây, Trung tâm TDTT Thạch Thất cùng chính quyền địa phương, lớp Vovinam ở Hữu Bằng đã khai giảng vào ngày 01-01-2001 với sự tham gia của hơn 250 thanh thiếu niên tập luyện tại sân Quán – nơi dân làng rước thánh ra đây tế lễ và trai làng vật thờ mấy keo, xong mới rước thánh về đình.

Trước đó, ngày 31-12-2000, lễ khai giảng lớp học diễn ra tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã, sau đó các Hướng dẫn viên, võ sinh đến nhà thờ họ Nguyễn Đình dâng hương hoa, mâm ngũ quả để tế lễ trong 3 hồi chiêng, trống vang ngân… Tuy nhiên, do một số lý do khách quan và chủ quan, lớp chỉ được duy trì có mấy tháng. Khoảng gần cuối những năm 2000, lớp tập mới được giảng dạy trở lại.

Ngày sinh và ngày qua đời của Sáng tổ Nguyễn Lộc nằm trong 10 ngày đầu tháng tư âm lịch. Đó là những ngày mà đất trời đã mang đến và sau đó mang đi một bậc thầy võ học. Như nhiều năm trước đây, vào khoảng thời gian này, bằng tấm lòng tri ân sâu sắc, tất cả môn sinh Vovinam khắp nơi đều hướng về bậc thầy đã khai sáng ra môn phái, và năm nay đã là Mùa tưởng niệm lần thứ 51.

1. Kể từ khi Sáng tổ qua đời, theo phong tục Việt Nam, vào dịp giỗ tết, các môn đệ đều đến viếng mộ và thăm gia đình ông. Thời tôi bắt đầu học Vovinam (1964), tài liệu, sách vở về Vovinam chưa nhiều nên sự hiểu biết về bậc thầy đã sáng tạo ra môn phái còn khá lờ mờ. Nếu tôi nhớ không lầm, năm 1965, lần đầu tiên, chúng tôi được võ sư trưởng Lê Sáng hướng dẫn đi viếng mộ Sáng tổ Nguyễn Lộc tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi (nay là công viên Lê Văn Tám) ở Q.1 (Sài Gòn).

Từ đường Phan Thanh Giản (nay là đường Điện Biên Phủ) đi vào, mộ của Sáng tổ nằm phía bên trái. Lúc đó, người Pháp mới trao trả lại nghĩa trang này nên chung quanh mộ Sáng tổ còn trống vắng. Bốn mươi sáu năm đã trôi qua, nhưng những ấn tượng và cảm xúc khi lần đầu tiên được thắp hương và nghiêm lễ trước mộ phần Sáng tổ vẫn còn đọng lại trong lòng tôi… Sau này, phía trước mộ phần có đặt thêm tượng chân dung Sáng tổ trên cột tròn, cao gần 2m do điêu khắc gia Mai Lân thực hiện. Hành lễ xong, anh em chúng tôi cùng nhau đạp xe đi thăm gia đình Sáng tổ ở khu cầu Bình Lợi.

Đất đai của gia đình Sáng tổ rất rộng. Năm 1971, Lễ tưởng niệm Sáng tổ lần thứ 11 được tổ chức bằng hình thức Trại tưởng niệm tại đây. Trên tinh thần góp giỗ, nhiều đoàn Vovinam ở các tỉnh, thành đã về tham dự với nhiều hình thức sinh hoạt phong phú và vui tươi. “Năm đó, anh Hoàng Minh Cường (Phạm Văn Sinh), Dương Minh Nhơn, Võ Văn Tuấn, Lưu Thăng và tôi được thăng Chuẩn hồng đai nên tôi nhớ rất rõ sự việc này. Năm sau (1972), tôi dẫn quân ở Long Xuyên về dự Lễ tưởng niệm tại Hoa Lư”, võ sư Nguyễn Tôn Khoa hồi tưởng.

Năm 1983, do nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi bị giải tỏa, thi hài Sáng tổ buộc phải cải táng. Võ sư Trần Huy Phong – người nhận nhiệm vụ cải táng – đã hỏa thiêu hài cốt Sáng tổ, di cốt được mang về đặt tại số 31 Sư Vạn Hạnh, Q.10. Và từ đó, địa điểm này trở thành Tổ đường cho đến nay.

2. Lễ tưởng niệm Sáng tổ lần thứ 50 được tổ chức vào sáng ngày 16-5-2010 (3-4 Canh Dần) tại CLB Lam Sơn (Q. Bình Tân, TPHCM) do võ sư Võ Văn Tuấn thành lập cách nay vài năm. Thời điểm đó, Chưởng môn Lê Sáng đang nằm điều trị tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Tuy 3 ngày mới đến phiên trực chăm sóc Thầy một lần, nhưng tôi đã tình nguyện đến trực để anh em lo tổ chức và dự Lễ tưởng niệm. Dù không thể có mặt, nhưng lòng Thầy vẫn hướng về buổi lễ và tôi có cảm tưởng như Thầy vẫn theo dõi sát sao chương trình hành lễ qua việc xem đồng hồ đeo tay nhiều lần… Khoảng gần 10 giờ, Thầy xem đồng hồ lần nữa rồi cười nói: “Vì không có thăng đai nên giờ này chắc lễ đã xong!”.

Từ năm 1965 đến năm 1974, năm nào Thầy cũng tổ chức một kỳ thi thăng đai và khuyến khích các học trò viết bài về Vovinam trong Mùa tưởng niệm để trình lên Sáng tổ thành quả của các môn đệ Thầy. Những năm sau này, Thầy vẫn nhắc nhở các võ sư có trách nhiệm giữ gìn truyền thống mang ý nghĩa tốt đẹp đó. Trước Lễ tưởng niệm lần thứ 50, hai bài: “Hy vọng vào tương lai” và Dấu ấn người kế nghiệp” của 2 môn sinh cao đẳng ghi lại một số thành quả chủ yếu của môn phái đã đăng trên báo Thanh Niên thể thao&giải trísố ra ngày 11-5-2010. Vài hôm sau, tôi nghe võ sư Nguyễn Tôn Khoa nói lại: “Hôm báo phát hành, tôi đã đọc cho Thầy nghe cả 2 bài, Thầy vui lắm…”. Tuy nhiên, dù Tổ đường và Liên đoàn Vovinam Việt Nam đều quyết tâm thực hiện mong muốn tổ chức thi thăng cấp Hồng đai, nhưng không biết vì lý do bất khả kháng nào mà không có Lễ thăng đai trong năm Thầy nằm viện nên niềm vui của Chưởng môn chắc cũng không trọn vẹn…

Năm nay, Mùa tưởng niệm lại về. Lễ tưởng niệm và Lễ thăng đai mà Chưởng môn quan tâm đều được thực hiện trang trọng tại Tổ đường… nhưng Thầy đã đi xa…

Đêm 08-5-2011

(6-4 Tân Mão)

Môn đồ Thiện Tâm

Chưởng môn Lê Sáng đang thắt đai danh dự cho tân khoa Hồng đai

Dương Minh Tân (7-2009)

Lời giới thiệu: Võ sư Nghiêm Văn Hùng sinh năm 1943 tại Gia Lâm, Hà Nội. Giữa năm 1955, ông theo tập Vovinam tại Saigon. Ông cũng là một trong những người mặc quần đỏ đầu tiên của môn phái cùng với các võ sư Trần Trọng Bách (Trần Huy Phong), Nguyễn Văn Thư, Phạm Hữu Độ, Nghiêm Văn Hiền, v.v. Hiện nay, ông Hùng đang cư ngụ tại quận 9, TPHCM. Xin trân trọng giới thiệu bài viết của võ sư Nghiêm Văn Hùng về những tháng ngày được học võ với Sáng tổ Nguyễn Lộc.

1. Tôi bước chân vào phòng tập Vovinam tại số 58 đường Aviateur Garros (sau này gọi là Thủ Khoa Huân) ở Saigon vào khoảng tháng 5 hoặc tháng 6 năm 1955 khi Saigon đã bắt đầu có những cơn mưa đầu mùa. Nói tiếng là phòng tập, nhưng thực ra đây là tòa soạn báo Phương Đông của ông Hồ Hữu Tường bỏ trống.

Lúc bấy giờ, bố tôi đang làm việc ở một cơ quan tại Saigon. Trong số những đồng nghiệp của bố tôi có ông Bùi Thiện Nghĩa (một võ sư Vovinam nhưng tôi không biết) và ông Nghĩa đã nói với bố tôi cho anh em chúng tôi theo học võ. Theo lời dạy của bố, 2 anh Nghiêm Văn Hải (1939-1967), Nghiêm Văn Hiền (1941, đang định cư tại Mỹ) và tôi bắt đầu những ngày tập võ. Từ nhà ở chợ Vườn Chuối (đường Phan Đình Phùng, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu), chúng tôi lội bộ đến đường Thủ Khoa Huân để học võ vào buổi tối.

Ngày đầu tiên khi đến nơi, tôi thấy ông Bùi Thiện Nghĩa cùng một vài người (sau này mới biết là võ sư Vovinam) ngồi nơi bộ ghế salon mây đặt trên vĩa hè trước phòng tập và đang trò chuyện. Ông Nghĩa đón và dẫn anh em chúng tôi đến chào một người mặc áo sơ-mi trắng dài tay. Đó là Sáng tổ Nguyễn Lộc.

Sáng tổ Nguyễn Lộc vóc người cao, gầy nhưng có đôi mắt cực sáng. Ông ngồi đó chung với những người khác nhưng ấn tượng đầu tiên đối với tôi là đôi mắt cực sáng lại rất hiền từ của ông nổi bật lên tất cả. Sau khi chúng tôi kính cẩn chào ông, Sáng tổ nói ngay với chúng tôi về cách xưng hô: “Các chú gọi anh là Anh Lộc” (dù lúc đó tôi chỉ mới 12 tuổi) rồi nhỏ nhẹ nói với ông Nghĩa đưa chúng tôi vào lớp… Trong buổi tập đầu tiên này, Anh Lộc đã dạy chúng tôi nghi thức nghiêm-lễ. Và cũng bắt đầu từ đó anh em chúng tôi bước chân vào Vovinam .

                            Võ sư Nghiêm Văn Hùng (tháng 7-2011)

2. Phòng tập Thủ Khoa Huân rộng khoảng 4mx5m, tráng xi măng đen và láng. Bên ngoài phòng tập có một gian phòng nhỏ dùng để thay quần áo. Ngoài ra không có một bảng hiệu nào khác. Lúc đó, trong phòng cũng có một số anh em đang tập luyện và đều ở trần, mặc quần đùi đủ kiểu. Lớp của chúng tôi có khoảng 12-13 người, mỗi tuần tập 3 buổi từ 19 giờ đến hơn 20 giờ. Thỉnh thoảng, sau khi  tập xong, mấy anh em còn ngồi lại trò chuyện đến khoảng 21 giờ mới lội bộ về. Trực tiếp dạy chúng tôi là 1-2 anh phụ tá, còn Anh Lộc chỉ dạy đòn thế mới.

Ba tháng đầu được xem là thời kỳ thử thách. Những ai chịu đựng được đau đớn thì tiếp tục. Thế nên, tập độ vài ba tuần thì lớp nghỉ gần hết và lại đón nhận thêm một số anh em khác hoặc chuyển lớp sáp nhập với một lớp khác. Sau vài lần ghép lớp, chúng tôi nhập chung với lớp các anh Trần Trọng Bách (Trần Huy Phong), Nguyễn Văn Thư, Phạm Hữu Độ, Thông, Nguyễn Bình (thường gọi là Bình Bột, hiện nay ở đường Nguyễn Tiểu La, Q.10, TPHCM), Hồng Dương, Hùng (anh của ca sĩ Lệ Thanh), anh em Dũng, Lâm v.v. Trong thời kỳ tập ở Thủ Khoa Huân, chúng tôi ít khi thấy Anh Lê Sáng.

Khoảng chừng hơn 1 năm sau, lớp chuyển về tập tại tư gia Anh Lộc trên đường Nguyễn Khắc Nhu. Nơi tập là phòng khách đã được tạm thu dọn bàn ghế. Lúc này, chúng tôi gặp Anh Sáng thường hơn và chưa đầy năm thì Anh Lộc nhuốm bệnh – khoảng cuối năm 1957.

Anh Lộc bệnh, Anh Nghĩa đi công tác xa nên Anh Sáng thay thế và trực tiếp dạy võ. Lớp dời về đường Trần Khánh Dư vào đầu năm 1958. Đây là căn phòng học lớp luyện thi của anh Nguyễn Văn Tụ (một thân hữu Vovinam, sau này làm Chủ tịch Hội Khổng học ở Saigon) – bạn của Anh Bách. Tuy căn phòng nhỏ, nóng, thiếu điện nước v.v., thời gian học lại thất thường nhưng chúng tôi rất hăng hái tập luyện.

Rời phòng tập ở đường Trần Khánh Dư, lớp chuyển sang tập tại lầu 2 của Moulin Rouge – tên một vũ trường đã phá sản – nằm ở góc đường Trần Hưng Đạo và Huỳnh Mẫn Đạt. Địa điểm này có thể gọi bằng 2 tên: Quán Hai Cua (quay mặt ra đường Trần Hưng Đạo) hoặc Moulin Rouge (quay mặt ra đường Huỳnh Mẫn Đạt). và có đặt một tấm bảng với dòng chữ: Trung tâm huấn huyện Vovinam – Võ sư trưởng Lê Sáng. Đây là lần đầu tiên bảng hiệu này xuất hiện tại Saigon còn trước đó chỉ là những tấm affiche khiêm nhường có in hình đánh đòn chân.

Lớp chúng tôi (Bách, Thư, Tuấn, Độ, Hùng, Hiền, Bình, Phượng v.v.) chỉ tập trọn buổi sáng Chủ nhật do Anh Sáng trực tiếp hướng dẫn và không có ai khác được đến xem. Những lớp còn lại (Trịnh Văn Mão, Cao Văn Cát, Lý Phúc Thái, Đào Văn Năng, Tô Cẩm Minh, Liên Quốc, Nguyễn Đức Quỳnh Kỳ, Nguyễn Văn Vui v.v.) tập 3 buổi/tuần vào ngày thường, trong đó có 2 lớp do anh Thư và anh Đàm Gia Tuấn dạy. Tất cả anh em chúng tôi, dù các lớp khác nhau nhưng đều đối xử  như anh em trong gia đình.

                     Hai võ sư Nguyễn Bình (trái) và Nguyễn Việt Thông

Trong thời gian này, bên cạnh nhiệm vụ nặng nề là Trưởng tràng của Vovinam, Anh Sáng còn giữ chức vụ Tổng thư ký Tổng cuộc Quyền thuật miền Nam Việt Nam. Do đó, có những lúc Anh Sáng bận công tác, anh em chúng tôi lại tự tập lấy với nhau.

Nếu như lúc trước chúng tôi mặc quần đùi đủ màu, đủ kiểu, thì lúc sang tập ở Moulin Rouge, Anh Sáng cho chúng tôi mặc quần đỏ (khi đi đánh biểu diễn thì mặc thêm áo thun ba lỗ, đàng sau lưng có hàng chữ Vovinam). Ý tưởng phân định trình độ theo màu quần là của Anh Lộc và sau này Anh Sáng thực hiện. Những ý tưởng như thế thường được mang ra để thảo luận và lấy quyết định chung. Lớp ở Trần Hưng Đạo duy trì đến khoảng đầu năm 1961 mới giải tán vì thời cuộc…

Một số anh em chuyển về tập bán công khai ở đền thờ đức Trần Hưng Đạo (trên đường Hiền Vương, nay là đường Võ Thị Sáu). Nghỉ tập võ, tôi vẫn tiếp tục học văn hóa và tốt nghiệp kỹ sư điện tại Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ vào năm 1967. Ra trường, bận nhiều công việc nên tôi không có điều kiện tham gia sinh hoạt Vovinam thường xuyên như anh Bách, Thư v.v. tuy tấm lòng vẫn trông theo hành trình của Vovinam tiến bước .

Cũng trong thời gian chúng tôi luyện võ ở phòng tập Trần Hưng Đạo, Sáng tổ đã vĩnh viễn ra đi sau thời gian dài trọng bệnh. Hôm ấy (29-4-1960) trong giờ tập, nhận được hung tin, anh em chúng tôi tức tốc đến building Everest với ước mong được nhìn lại người Anh Cả cao quý nhất của Vovinam lần cuối cùng…!

3. Nhìn lại các lớp học đã qua, thông thường, lớp bắt đầu bằng các các bài tập khởi động cơ thể, hít thở, sau đó bước vào các bài tập kỹ thuật như: băm tay, đánh tay (2 người đối mặt, 2 tay đánh vào nhau hết xuôi tới ngược), đánh chỏ, đánh gối, đá (thẳng, nghiêng, xéo), vặn dây thừng (to bằng cườm tay, vặn xuôi, vặn ngược), vặn và đẩy cây (tầm vông); cuối buổi tập còn có thêm màn nhảy cóc, té ngã, đứng tấn v.v. Đó là những phương pháp để rèn thể lực, luyện thân thép – một nội dung rất quan trọng của Vovinam.

Tập xong phần luyện thân thép, mồ hôi ra như tắm, rơi xuống cả sàn nhà, chúng tôi phải lau sạch rồi mới bắt đầu tập kỹ thuật đòn thế, khóa gỡ, phản đòn, tay không chống vũ khí v.v. Chương trình lần lượt học lên các bài song luyện 1, 2, 3, bài vật 1, 2, đòn chân từ số 1 đến 12. Từ 12 đòn chân đó, Anh Sáng, Anh Bách bổ sung thêm thành 21 đòn chân để dạy cho các lớp sau này. Anh Sáng cũng dạy chúng tôi bài quyền số 1 bao gồm một số đòn thế ghép lại để ôn luyện một mình. Sau này, nhằm phong phú hóa các đòn thế khi đi biểu diễn, các bài tam luyện, tứ luyện, các đòn chân chiến lược v.v. đã được phát triển và đạt được những kết quả tốt.

Trong thời gian từ giữa năm 1955 đến khoảng đầu năm 1961, chúng tôi cũng được đi biểu diễn ở nhiều nơi. Năm 1956, lớp biểu diễn ở sân vận động Tao Đàn trước một trận đấu võ đài tự do. Cuộc biểu diễn Vovinam đêm đó đã gây được tiếng vang lớn. Khi chúng tôi biểu diễn xong, một số võ sư các lò võ khác trong đó có võ sư Huỳnh Tiền đã nhảy lên đài để xem những bước đi của chúng tôi còn lưu lại mờ mờ. Và đây cũng là lần đầu tiên các võ phái ở Saigon biết đến Vovinam.

Chúng tôi cũng từng “trình làng” ở sân Tinh Võ (quận 5, Saigon) nhân một cuộc đấu võ đài tự do giữa các võ sĩ Saigon – Lào. Tuy không rộng lắm, nhưng thiết kế của sân Tinh Võ rất phù hợp với không khí võ đài. Phần biểu diễn của anh em chúng tôi cũng được hoan nghênh nhiệt liệt. Khoảng giữa năm 1961, chúng còn biểu diễn ở nhà hát Olympic (đường Hồng Thập Tự nay là Nguyễn Thị Minh Khai) để cứu trợ nạn lụt miền Trung v.v. Hầu như toàn bộ các võ sư, HLV Vovinam (quần đỏ và quần vàng) lúc đó cùng xông vào lo liệu mọi việc từ khâu bán vé đến biểu diễn v.v. Thời chúng tôi, trước khi biểu diễn, anh em đứng nghiêm, hơi nghiêng người chào khán giả. Nghi thức nghiêm-lễ chỉ sử dụng khi đồng môn chào nhau (trước và sau khi biểu diễn).

4. Từ ngày bước chân vào phòng tập Thủ Khoa Huân đến nay, dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng Vovinam lúc nào cũng nằm trong tâm khảm của tôi. Sở dĩ tình Vovinam vẫn sống trong tim tôi vì nhiều lý do.

Trước tiên là do cái thần thái đĩnh đạc của Anh Lộc, cách ăn mặc (Anh thường mặc áo sơ mi trắng dài tay, đi đâu thì khoác thêm chiếc áo blouson màu xanh da trời), cách nói chuyện luôn làm cho người đối diện phải kính nể. Tuy không thuyết giảng dài dòng, nhưng qua những lần giảng dạy trong lớp về đòn thế, hoặc trò chuyện sau giờ tập, Anh Lộc đã dạy chúng tôi nhiều bài học về đạo đức của người môn sinh Vovinam: tập Vovinam không phải dùng để đánh người, làm hại người mà trước tiên là làm cho thân thể khỏe mạnh, và chỉ dùng võ trong trường hợp rất cần thiết để bảo vệ bản thân, không thượng đài với danh nghĩa Vovinam vì bất cứ lý do gì.

Lúc dạy chúng tôi đòn thế mới, Anh Lộc ra đòn rất sắc, gọn, nhẹ nhàng nhưng đẹp mắt. Sau khi làm mẫu, anh gọi từng cặp ra đánh, đích thân anh sửa từng bước chân, từng động tác cho học trò. Tôi nhớ có lần anh Thông đánh cặp với anh Bách tập tành có vẻ lơ mơ, anh Lộc kêu ra và bảo đấm thẳng tay phải. Một cú phản đòn như điện xẹt của anh khiến anh Thông văng xa khoảng 4 thước. Theo vài anh kể lại, hồi còn ở miền Bắc, có lần một tên Tây nào đó đến nơi Anh Lộc dạy với ý định phá phách. Chỉ một cú ra đòn của Anh thôi, tên Tây ấy đã lủi mất với sự tâm phục.

Trong suốt thời gian từ năm 1955 đến đầu năm 1961, Anh Lộc và cả Anh Sáng chưa bao giờ đề cập đến 2 chữ võ đạo, về cách mạng tâm thân. Có lẽ tất cả những điều đó đã ẩn trong đòn thế, trong cách xưng hô Anh Em, trong hành xử đầy tính gia đình và tình người. Đối với tôi, danh xưng Vovinam có lẽ cũng quá đủ là đề tài để nghiên cứu thâm sâu.

Võ sư Nghiêm Văn Hùng đang đọc tập thơ Nhớ nguồn của Chưởng môn Lê Sáng

Nhân đây, tôi cho rằng kỹ thuật Vovinam là do Sáng tổ Nguyễn Lộc sáng tạo chứ không phải “thái dụng” kỹ thuật của các môn võ khác. Chúng ta thử nhìn lại xem, vào thập niên 1920, 1930 (ngoài Thiếu Lâm, quyền Anh và một số các môn phái gia truyền của Việt Nam), những võ phái Judo, Taekwondo, Karate, Pencak Silat… đều chưa xuất hiện (thậm chí chưa ra đời) tại Việt Nam thì lấy gì để Sáng tổ nghiên cứu và “thái dụng”? Dù vậy, Vovinam vào thời đó đã gây được tiếng vang, tạo được uy tín lớn. Theo tôi, sở dĩ Vovinam tạo được sức hút đối với thanh thiếu niên không chỉ đơn thuần là kỹ thuật mà cốt lõi là không khí tập luyện mang tính chất gia đình – người anh dạy dỗ đàn em. Suốt mấy năm dài tập luyện, dù chẳng có đai đẳng gì cả nhưng chúng tôi vẫn đối xử với nhau bằng tình anh em trong một gia đình.

Giờ đây, tuy Anh Lộc đã đi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những lời dạy của Anh về đạo đức làm người, đạo đức của người tập Vovinam như: kỷ luật tự giácluyện thân thép, không thượng đài dưới bất cứ hình thức nào, sinh hoạt của Vovinam phi chính trị và tôn giáo v.v. vẫn còn ghi đậm trong trái tim tôi những cảm xúc đặc biệt mà tôi nghĩ đó là tình Vovinam…

                                                          27-8-2011

Môn đồ Nghiêm Văn Hùng