Archive for the ‘Ngôn ngữ’ Category

Hỏi – ngã: chuyện như đùa!

Posted: Tháng Mười 21, 2011 in Ngôn ngữ

Trong truyện vừa Ngôi trường đi xuống của nhà văn Vũ Hạnh (Tạp chí Văn ấn hành tại Sài Gòn năm 1966, NXB Văn Nghệ TP.HCM in lại năm 1988 và NXB Đà Nẵng tái bản năm 2002), có nhân vật “thi sĩ – giáo sư” Đỗ Văn Chỉ, biệt hiệu Hồng Hoa Phượng Điệp. Bằng lối viết hài hước chua cay, Vũ Hạnh mô tả nhân vật Đỗ Văn Chỉ thế này: “Ông tuyên bố rằng thi hào không cần phải giỏi chính tả và chỉ giáo viên tiểu học mới bận tâm đến môn bần tiện ấy. Hơn nữa, theo ông, cứ nhìn dọc các dãy phố Sài Gòn thì rõ: biết bao cửa hiệu ăn đều viết chữ phở với cái dấu ngã kỳ cục mà người ta vẫn kéo vô ăn uống ào ào, đâu có cảm thấy mất ngon vì không chịu dùng dấu hỏi? Chính thuốc Tam-tinh-hải-cẩu-bổ-thận-hoàn lại viết toàn bằng dấu ngã ở trên tất cả các tấm quảng cáo to tướng mà vẫn bán chạy suốt mấy mươi năm nay rồi, đâu có gì sai chút dấu mà không công hiệu? Tóm lại, theo giáo sư Chỉ, thì môn chính tả quả là một xa xỉ phẩm, trong đó phân biệt các dấu hỏi, ngã là việc buồn cười!”.

Ngỡ đâu mỗi một nhân vật hư cấu “thi sĩ – giáo sư” Đỗ Văn Chỉ bạo phổi phát ngôn vung vít như thế, chẳng dè thực tế hiện nay cũng có “văn nghệ sĩ – trí thức” nói tương tự. Ví như một nữ diễn viên tên tuổi, gốc gác ở một tỉnh miền Tây Nam Bộ, từng lấy bằng cử nhân Ngữ Văn trong nước và tốt nghiệp đạo diễn sân khấu ở nước ngoài. Khi có kẻ góp ý về một văn bản do chính diễn viên ấy viết tay lộn tùng phèo dấu hỏi với dấu ngã, chị ta nhún vai:

– Chuyện nhỏ! Thì dấu hỏi hay dấu ngã, mình cũng đọc như nhau. Vậy khi viết, phân biệt làm gì cho mệt?

Phân biệt dấu hỏi với dấu ngã là quy tắc chính tả Việt ngữ được thống nhất trên toàn quốc. Chẳng biết đó có phải là “chuyện nhỏ” không, nhưng trường hợp có thật vừa nêu đúng là “chuyện như đùa”.

Cầm chắc rằng nhân vật hư cấu Đỗ Văn Chỉ là người miền Trung hoặc miền Nam. Dân gốc hai miền này phát âm không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã. Trong khi đó, hầu hết dân miền Bắc phát âm thanh hỏi khác ngã một cách rõ ràng. Tuy nhiên, phần lớn người miền Trung và miền Nam có thực học đều viết đúng, hoặc ít nhất cũng hạn chế tối đa sự nhầm lẫn dấu hỏi với dấu ngã khi viết. Bởi, người ta ý thức được tiếng Việt chuẩn phải đủ 6 thanh: ngang, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Nhiều phương ngữ, thổ ngữ – cả ở miền Bắc – chỉ có 5 thanh, thậm chí 4 thanh. Nhưng đó là phát âm. Còn chính tả lại thể hiện đầy đủ 6 thanh, nếu vô tình hay cố ý tước bỏ bớt thanh nào đấy thì có thể gây hiểu lầm.

Với dấu hỏi và dấu ngã, chỉ cần xem xét các ví dụ với phụ âm đầu b sau đây cũng đủ thấy nếu lẫn lộn thì ngữ nghĩa biến đổi “một trời, một vực”:

Bả: bà ấy / mồi nhử (bả chuột, bả vinh hoa).

Bã: rời, nát, nhạt nhẽo (giò bã) / mệt rã rời / phần cái, phần xác còn lại sau khi chiết hết nước cốt (bã mĩa, bã rượu).

Bảo: nói (gọi dạ, bảo vâng) / quý hóa (bảo bối, bảo vật)

Bão: gió lớn, có sức tàn phá dữ dội / quặn bụng (đau bão).

Bẩy: nâng vật nặng nhờ tác động lên đòn có điểm tựa.

Bẫy: dụng cụ hoặc phương thức lừa bắt đối tượng nào đó.

Bỉ: phỉ báng, khinh rẻ (bỉ mặt, thô bỉ).

Bĩ: xui rủi (bĩ cực, thái lai).

Bổng: thu nhập ngoài lương (bổng lộc) / nâng cao lên trong khoảng không (nhấc bổng).

Bỗng: bã rượu hoặc rau có ủ chua (giấm bỗng)/ bất ngờ (bỗng dưng, bỗng nhiên).

Một chuyện tiếu lâm kể rằng có anh nọ buôn bán cùng lúc 2 mặt hàng: hải sản và gốm sứ. Một cô bạn gái ở tỉnh xa đánh bức điện tín cho anh: Gửi gấp 100 đĩa. Số là cô vừa đọc thư anh ấy, có đoạn viết rằng vừa mới nhập loại đĩa / dĩa sứ men lam rất đẹp. Oái oăm thay! Nhân viên bưu điện lại chuyển điện văn thế này: Gửi gấp 100 đỉa. Kết cục là cô gái kia bị một phen kinh hãi vì nhận được lô hàng gồm cả trăm con đồn đột, tức loài… đỉa biển!

Tất nhiên, đấy là chuyện khôi hài, nhưng hàm ý mang tính cảnh báo: chớ nhầm lẫn dấu hỏi với dấu ngã khi viết chữ quốc ngữ.

Viết đúng dấu hỏi và dấu ngã nói riêng, đúng chính tả nói chung, không chỉ chứng tỏ sự tôn trọng tiếng Việt, mà còn bộc lộ phần nào trình độ học vấn. Giám đốc một công ty “ăn nên làm ra” ở TP.HCM tuyên bố:

– Với hồ sơ xin vào làm công ty chúng tôi, riêng đơn xin tuyển nhân viên là chúng tôi yêu cầu viết tay. Dù đương sự có bằng cấp cỡ nào, nhưng đọc thấy lá đơn viết sai chính tả tiếng Việt thì chúng tôi rất nghi ngờ về trình độ.

Thực tế cho thấy, muốn viết đúng hỏi – ngã, cần đọc kỹ và viết nhiều. Gặp từ ngữ chưa rõ ràng bỏ dấu, nên tra từ điển, nhất là các loại từ điển chính tả; chẳng hạn Từ điển chính tả phổ thông của nhiều soạn giả (NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1963), Việt ngữ chánh tả tự vị của Lê Ngọc Trụ (NXB Khai Trí, Sài gòn, 1972), Từ điển chính tả mini của Hoàng Tuyền Linh và Vũ Xuân Lương (NXB Đà Nẵng, 1995), Từ điển chính tả tiếng Việt của Hoàng Phê, Lê Anh Hiên, Đào Thản (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1998), v.v.

Ngành giáo dục – đặc biệt là các bậc học phổ thông – có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc hình thành ý thức tôn trọng chính tả tiếng Việt một cách có hệ thống, không xem việc thả dấu hỏi “lộn sòng” dấu ngã là… chuyện như đùa.

Phanxipăng
Tài Hoa Trẻ 209 (1-5-2002)

Viết hoa: chuyện không đơn giản

Posted: Tháng Mười 20, 2011 in Ngôn ngữ

Một trong những mục tiêu mà công cuộc “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” hướng tới là chuẩn hóa và thống nhất về mặt chính tả, trong đó có vấn đề viết hoa. Tưởng chừng đây là “chuyện dễ”, song đi vào lý thuyết cũng như thực tiễn sử dụng thì mới thấy… rắc rối muôn vàn!

Xưa, ông cha ta dùng chữ Hán, chữ Nôm, hoàn toàn chẳng cần viết hoa hay viết thường. Từ khi chữ quốc ngữ sử dụng các mẫu tự Latinh được hình thành và phổ cập rộng rãi, vấn đề viết hoa mới đặt ra.

Có lẽ nên ghi chú điều này: hiện nay, cũng tương tự chữ Hán, trên thế giới còn một số hệ thống văn tự chẳng có lối viết hoa. Như chữ Ả Rập, chữ Thái, chữ Lào, chữ Khmer. Ngay cả những ngôn ngữ sử dụng mẫu tự Latinh để ghi chép thì tùy từng dân tộc, từng cộng đồng mà quy cách viết hoa cũng khác nhau. Văn tự Đức chỉ viết hoa chữ đầu câu và viết hoa mọi danh từ trong câu; không phân biệt danh từ chung với danh từ riêng, mà chỉ phân biệt danh từ với tất cả các từ loại khác. Văn tự Pháp có cách viết hoa gần giống ViệtNam, song cũng tồn tại những khác biệt nhất định.

Không kể lối viết hoa trang trí trong nghệ thuật đồ họa, vì lý do thẩm mỹ, chữ chẳng đáng viết hoa vẫn viết hoa và ngược lại (thường thấy trên bìa sách báo, bích chương, và các bao bì hàng hóa) thì viết hoa trong tiếng Việt hiện đại nhằm thể hiện bốn chức năng cơ bản: cú pháp; tu từ; đối lập danh từ riêng với danh từ chung; biệt hóa tên cơ quan, đoàn thể, tổ chức, sản phẩm. Chúng ta thử xem xét lần lượt từng loại.

Viết hoa cú pháp

Ấy là đánh mốc sự bắt đầu một câu. Cứ mở đầu một câu, chữ đầu tiên phải viết hoa, bất kỳ đó là chữ gì. Điều này tạo phân đoạn về phương diện cú pháp, khiến ý tưởng trình bày được mạch lạc, khúc chiết, dễ tiếp thu. Đây là lối viết hoa bắt buộc của chuẩn chính tả Việt ngữ hiện đại, nhìn chung được thực hiện thống nhất khắp toàn quốc, từ bắc tới nam. Kể cả người nước ngoài và bà con Việt kiều dù ở phương trời nào, khi soạn thảo văn bản tiếng Việt đều nghiêm túc tuân thủ quy định này.

Thực ra, quy định này được xác lập cách đây chưa lâu lắm. Theo nhiều nhà nghiên cứu, giai đoạn chữ quốc ngữ hình thành vào thế kỷ XVII thì lối viết hoa cú pháp chưa xuất hiện.

Sách Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes in song ngữ Latinh – Việt vào năm 1651, cũng như các thư từ viết bằng chữ quốc ngữ thời ấy còn lưu lại, cho thấy: người ta chỉ viết hoa sau đoạn xuống hàng và chữ viết hoa được viết thụt đầu dòng; còn các câu trong đoạn văn thì viết thường chữ đầu cả. Phải đến tháng 4-1865, khi Gia Định báo – tờ báo Việt ngữ đầu tiên ở nước ta – ra đời thì lối viết hoa cú pháp như hiện nay mới thực sự được khẳng định.

Căn cứ tín hiệu nào mà chúng ta viết hoa cú pháp?

Dấu chấm (.): cứ chấm hết câu thì viết hoa mở đầu câu kế tiếp.

Đó còn là dấu chấm hỏi (?) và dấu chấm than hay dấu cảm thán (!).

Rắc rối là dấu chấm lửng (…) vì nó có thể kết thúc một câu, nhưng nó có thể nằm giữa câu trong trường hợp liệt kê hoặc do chủ ý người viết muốn gây bất ngờ hay diễn tả sự ngắt quãng, sự kéo dài về âm thanh, v.v.

Hãy so sánh mấy ví dụ sau:

– Lòng ta rộn rã nỗi yêu thương… (Trích thơ Hàn Mạc Tử)

– Cờ bạc là bác thằng… ăn trộm.

– Bước chân ra đi, nó khóc mãi… khóc mãi…

Dấu chấm phẩy ( ; ): cũng là tín hiệu tương tự dấu chấm lửng. Sau dấu này, có khi viết thường, có khi viết hoa. Đọc nhiều tác phẩm, ta thấy các phần tương đối độc lập trong câu được ngăn cách bằng dấu chấm phẩy, chữ tiếp theo vẫn viết thường. Thế nhưng, ở nhiều văn bản hành chính, nhất là phần “căn cứ”, “chiếu theo”, “xét đề nghị”  nêu đầu tiên, thì sau các dấu chấm phẩy lại là xuống dòng và viết hoa.

Sau dấu hai chấm ( : ) cũng thế. Có trường hợp viết hoa. Có trường hợp viết thường. Lắm khi rơi vào tình trạng “chín người… mười ý”!

Viết hoa tu từ

Danh từ chung, theo nguyên tắc là không viết hoa nếu nó không nằm đầu câu. Thế nhưng, trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định, muốn nhấn mạnh một từ nào đấy, làm cho từ ấy mang sắc thái biểu cảm, thì người ta viết hoa. Ví dụ

– Con Người, hai tiếng vang lên đầy kiêu hãnh!

– Ý niệm về Mẹ thường không thể tách rời ý niệm về Tình Thương. (Trích Bông hồng cài áo của Nhất Hạnh)

Viết hoa, qua những ví dụ vừa nêu, thường biểu lộ sự tôn kính, góp phần làm câu văn thêm độc đáo. Có thể gọi đây là lối viết hoa tu từ.

Viết hoa tu từ còn được áp dụng khi ghi tước vị, cấp bậc, chức vụ hoặc các yếu tố khác gắn với tên riêng, đặc biệt là các bậc danh nhân. Điều này dẫn tới nhiều cách viết, tạo ra sự không thống nhất. Thử so sánh:

– Phù Đổng Thiên Vương

– Phù Đổng thiên Vương

– Phù Đổng Thiên vương

– Phù Đổng thiên vương

Người ta tỏ ra phân vân, chẳng biết nên viết Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn hay viết chúa Trịnh, chúa Nguyễn. Nếu viết hoa chữ “Chúa”, thì phải viết Vua Lê, Vua Nguyễn. Nếu viết thường chữ “chúa” và chữ “vua” ắt phải viết trạng Quỳnh, nghè Tân, đồ Chiểu, tú Xương, v.v.

Vậy cũng đủ thấy rằng viết hoa hay viết thường chưa dễ đạt tới sự nhất trí trong một sớm một chiều!

So với lối viết hoa cú pháp, thì lối viết hoa tu từ đã xuất hiện sớm hơn: ngay từ khi chữ quốc ngữ hình thành vào thế kỷ XVII. Đến nay, dù có đôi điểm chưa thống nhất như đã nêu, song cả hai lối viết hoa trên đại thể đều đã đạt đến quy cách sử dụng tương đối ổn định trong cộng đồng người Việt.

Viết hoa để đối lập danh từ riêng chung

Danh từ riêng là gì? Danh từ chung là gì? Chúng khác nhau chỗ nào?

Theo công trình Hoạt động của từ tiếng Việt do Đái Xuân Ninh biên soạn (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1978), thì: “Danh từ riêng là tên gọi của một người, một vật, một tập thể riêng biệt. Danh từ riêng phân biệt rõ rệt với danh từ chung về mặt chức năng ngữ nghĩa. Danh từ chung là tên gọi của một loạt sự vật, chứ không phải của từng sự vật riêng biệt. Chúng khác với danh từ riêng ở chỗ bao giờ chúng cũng chứa đựng một nội dung ý nghĩa nhất định, kể cả những trường hợp mà chúng chỉ là tên gọi của một đối tượng duy nhất (mặt trời, quả đất…)”.

Thể hiện trên văn bản tiếng Việt, danh từ riêng mang dấu hiệu hình thức đặc thù là viết hoa. Song, như Nguyễn Văn Tu nhận xét trong chuyên luận Tiếng Việt trên đường phát triển (NXB Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1982) thì: “Viết hoa các danh từ riêng như thế nào là một vấn đề không ổn định và cho đến nay hầu như không có sự thống nhất”.

Để tiện khảo sát, ở đây chúng ta tập trung xem xét quy cách viết hoa nhân danh (họ tên người) và địa danh (tên đất). Chừng ấy cũng đủ thấy… phức tạp lắm rồi!

Về nhân danh, từ trước đến nay, tồn tại nhiều cách viết hoa khác nhau dù cùng một họ tên người. Ví dụ:

– Công Huyền Tôn Nữ Lưu Ly

– Công huyền Tôn nữ Lưu Ly

– Công huyền tôn nữ lưu Ly

– Công-huyền Tôn-nữ Lưu-Ly

– Công- Huyền-Tôn-Nữ-Lưu-Ly

Về địa danh, cũng có nhiều cách viết. Ví dụ: Sài Gòn, Sài gòn, Sài-Gòn, Sài-gòn,Saigon.

Sau này, theo Quyết định số 240/QĐ do Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thị Bình ký ngày 5-3-1984, thì chuẩn chính tả được thống nhất trên toàn quốc như sau:

Đối với tên người và tên nơi chốn, viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết, không dùng gạch nối. Ví dụ: Trần Quốc Toản, Quang Trung, Hà Nội, Bình Trị Thiên, Vũng Tàu. Điều ấy đã được áp dụng trong tất cả văn bản từ bấy tới nay.

Thế nhưng, không ít trường hợp vẫn còn khiến mọi người băn khoăn. Viết miềnNamhay MiềnNam, viết Bắc bộ hay Bắc Bộ, viết kiểu nào? Nếu thêm tọa độ, phương hướng vào, càng lúng túng: nên viết Miền Cực Nam Trung Bộ hay miền cực Nam Trung Bộ, miền cực nam Trung Bộ, miền cực nam Trung bộ đây? Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết, thì viết sông Hồng hay Sông Hồng, viết Hồng hà hay Hồng Hà, viết đồng bằng sông Cửu Long, hay Đồng Bằng Sông Cửu Long đây? Lại thấy có sách báo in Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng Sông Cửu Long, kiểu nào đúng?

Có viết hoa tước vị, cấp bậc, chức vụ hoặc biệt hiệu không? Mặc dù điểm này từng đề cập ở phần viết hoa tu từ, song giờ đây cũng nảy thêm thắc mắc. Viết Đại úy út Đen hay hay đại úy út Đen, đại úy Út Đen nhỉ? Viết Xuân tóc đỏ hay Xuân Tóc Đỏ nhỉ?

Nhân danh và địa danh tiếng Việt là thế, còn không phải tiếng Việt thì sao?

Bản Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt ban hành kèm theo Quyết định 240/QĐ nêu trên có chỉ cách viết tên riêng không phải tiếng Việt, gồm 8 trường hợp:

1. Nếu chữ viết của nguyên ngữ dùng chữ cái Latinh thì giữ đúng nguyên hình, kể cả các chữ cái f, j, w, z; dấu phụ ở một số chữ cái trong nguyên ngữ có thể lược bớt.

Ví dụ: Shakespeare, Paris, Petofi.

2. Nếu chữ viết của nguyên ngữ thuộc một hệ thống chữ cái khác thì dùng lối chuyển từ chính thức sang chữ cái Latinh. Ví dụ: Lomonosov, Moskva.

3. Nếu chữ viết của nguyên ngữ không phải là chữ viết ghi từng âm bằng chữ cái thì dùng lối phiên âm chính thức bằng chữ cái Latinh, thường là cách phiên âm phổ biến trên thế giới. Ví dụ:Tokyo,Kyoto.

4. Trường hợp những tên riêng mà trong thực tiễn sử dụng rộng rãi trên thế giới đã quen dùng một hình thức viết bằng chữ cái Latinh khác với nguyên ngữ thì dùng tên riêng phổ biến đó. Ví dụ:Hungary(dù nguyên ngữ là Magyarorszag),Bangkok(dù nguyên ngữ làKrung Thep).

5. Sông núi thuộc nhiều nước, nên có những tên riêng khác nhau, thì dùng hình thức tương đối phổ biến trên thế giới, song vẫn có thể dùng theo ngôn ngữ địa phương trong những văn bản nhất định. Ví dụ: sôngDanube/ Donau / Duna / Dunares.

6. Những tên riêng hoặc bộ phận tên riêng mà có nghĩa thì dùng lối dịch nghĩa phù hợp. Ví dụ: biển Đen,Guineaxích đạo.

7. Những tên riêng đã có hình thức phiên âm quen thuộc trong tiếng Việt thì không cần thay đổi, trừ khi có yêu cầu đặc biệt. Ví dụ: Pháp, Hi Lạp, Bắc Kinh, Lỗ Tấn. Nhưng thay Ý bằng Italia, thay Úc bằng Australia. Tuy vậy cũng chấp nhận sự tồn tại khác nhau của một số tên riêng trong những phạm vi sử dụng khác nhau. Ví dụ: La Mã / Roma.

8. Tên riêng trong các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở ViệtNamcũng thuộc trường hợp không phải tiếng Việt (Kinh).

Xét 8 trường hợp đã được quy định, chúng ta thấy ngay rằng có những trường hợp vẫn khó thống nhất (trường hợp 5 hoặc 7).

Không hiếm trường hợp tồn tại nhiều kiểu viết khác nhau trong thực tiễn áp dụng cho đến nay đối với cùng một tên riêng: Shakespeare / Xêchxpia / Sếch-xpia; Moskva /Moscow/ Moscou / Matxcơva / Mát-xcơ-va / Mạc Tư Khoa.

Như vậy, rõ ràng hiện trạng viết hoa vẫn còn lúng túng và lung tung lắm lắm.

Ngay các từ mặt trời hoặc quả đất dù đã được xác định là danh từ chung, không viết hoa, song sách báo vẫn in Mặt trời / Mặt Trời hoặc Quả đất / Quả Đất. Nếu căn cứ vào tiêu chí viết hoa để đối lập danh từ riêng với danh từ chung, thì trong trường hợp này, các em học sinh bị nhầm lẫn là điều rất dễ xảy ra.

Viết hoa để biệt hóa tên cơ quan, đoàn thể, tổ chức, sản phẩm

Tên cơ quan, đoàn thể, tổ chức, xí nghiệp, công ty, sở, phòng, ban, trường học, sản phẩm được dùng như những tên riêng – dù chúng không phải là danh từ riêng hoặc chỉ chứa một vài danh từ riêng. Toàn bộ tên gọi này được viết hoa ra sao?

Bản “Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt” ban hành kèm Quyết định 240/QĐ nêu trên cũng chỉ rõ: Đối với tên tổ chức, cơ quan, chỉ viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên. Ví dụ: Đảng cộng sản ViệtNam, Trường đại học bách khoa Hà Nội, v.v.

Trong giáo trình Tiếng Việt thực hành do Bùi Minh Toán chủ biên (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2000), phần phụ lục đã đăng toàn văn quyết định cùng quy định ấy. Thế nhưng, trong cả hai văn bản đều in rõ: Bộ Giáo dục. Vậy là ngược với quy định! Bởi, theo quy định được nêu kèm ví dụ như vừa dẫn, lẽ ra phải viết Bộ giáo dục thì mới phù hợp chứ.

Qua thực tế, quy định này vẫn không được áp dụng nghiêm túc vì rất nhiều lẽ:

Một tên gọi cơ quan, đoàn thể, công ty, xí nghiệp., v.v., lắm khi rất dài, mang đầy đủ ý nghĩa về cấp độ trong một hệ thống tổ chức nào đấy, về chức năng và nhiệm vụ, lại kèm theo danh hiệu cùng địa điểm.

Ví dụ: Trường đại học nông nghiệp Hôxê Máctin Hà Nội; Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất, thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu lương thực, thực phẩm và nông ngư cơ huyện Châu Thành.

Lắm khi, danh từ chung được dùng làm danh từ riêng trong tên gọi cơ quan hoặc sản phẩm, tuy nhiên cách viết tồn tại rất nhiều kiểu. Ví dụ: Nhà xuất bản Giáo Dục / Giáo dục; Báo Giáo dục và Thời đại / Giáo Dục và Thời Đại/ Giáo dục và Thời đại; Tạp chí Tài Hoa Trẻ / Tài hoa trẻ; Tủ sách Hai Tốt / Hai tốt. Thông thường, người ta viết hoa cả cụm từ. Chẳng hạn các báo và tạp chí Nhân Dân, Tài Hoa Trẻ, Thế Giới Mới, Kiến Thức Ngày Nay, Khoa Học Phổ Thông.

Nhưng có người lập luận: nếu thế thì tên các tác phẩm cũng phải viết hoa cả cụm từ. Chẳng hạn phóng sự Tôi Kéo Xe, tiểu thuyết Gánh Hàng Hoa, tập truyện Anh Phải Sống, bài thơ Màu Tím Hoa Sim, ca khúc Nhìn Những Mùa Thu Đi, bức tranh Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ.

Thậm chí, có người đề nghị viết hoa tất cả: Nhà Máy Vòng Bi – Xích-Líp Đông Anh; Xí Nghiệp Bóng Đèn-Phích Nước Rạng Đông Hà Nội; Công ty Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế. Viết kiểu này, cộng thêm các lối viết hoa khác (viết hoa cú pháp, viết hoa tu từ, viết hoa danh từ riêng), nếu không khéo sẽ xuất hiện những văn bản toàn viết hoa và viết hoa!

Xu hướng hiện nay là viết hoa không theo âm tiết mà theo từ trong các tên gọi cơ quan, tổ chức. Ví dụ: Bộ Thông tin, Tuyên truyền, Văn hóa và Du Lịch Lào; Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang.

Cũng chưa ổn! Vì theo cách này, viết Nhà hát Tuồng Đào Tấn e dễ gây ngộ nhận, mà phải viết Nhà hát tuồng Đào Tấn.

Vậy phải xây dựng mô thức thế nào để khỏi “lúc viết kiểu kia, lúc ghi kiểu nọ” rất … phi hệ thống?

 Hội nghị khoa học Chuẩn mực hóa chính tả và thuật ngữ khoa học do Viện Ngôn ngữ học kết hợp tổ chức với Trung tâm biên soạn sách cải cách giáo dục (trực thuộc Bộ Giáo dục) đã diễn ra rất quy mô, liên tục từ Hà Nội (7-1978), vào Huế (8-1978), TP Hồ Chí Minh (10-1978) rồi Hà Nội (6-1979), vậy mà vẫn không đạt đến sự nhất trí về quy tắc chuẩn chính tả chung.

Nhiều hội nghị, hội thảo mang chủ đề tương tự lại tiếp tục được tổ chức bấy nay với kết quả chẳng có gì khả quan hơn.

Một vị giáo sư ngôn ngữ học lão thành phát biểu:

– Dù muốn dù không, việc chuẩn hóa chính tả tiếng Việt cũng phải được xúc tiến để đạt đến sự nhất trí cao dựa trên cơ sở khoa học. Việc này sẽ thuận lợi nếu các chuẩn mực ngôn ngữ khác của tiếng Việt được xác định một cách vững chắc. Riêng quy cách viết hoa, muốn khắc phục tình trạng rối rắm như hiện nay, cũng cần phải dựa trên nhiều thành quả khảo sát và nghiên cứu thật triệt để.

Phanxipăng

Tài Hoa Trẻ 160 ~ 162 (2001)

Từ đồng nghĩa

Posted: Tháng Mười 18, 2011 in Ngôn ngữ

1. Đã có không ít quan niệm được nêu lên cho hiện tượng này với những dị biệt ít nhiều. Nhìn chung, có hai hướng quan niệm chính: một là dựa vào đối tượng được gọi tên, hai là dựa vào khái niệm do từ biểu thị.

Thực ra, từ đồng nghĩa không phải là những từ trùng nhau hoàn toàn về nghĩa. Chúng nhất định có những dị biệt nào đó bên cạnh sự tương đồng (mặc dù phát hiện sự dị biệt đó không phải lúc nào cũng dễ dàng). Chính sự dị biệt đó lại là lí do tồn tại và làm nên những giá trị khác nhau giữa các từ trong một nhóm từ đồng nghĩa. Rõ ràng tính đồng nghĩa có những mức độ khác nhau, và ta có thể nêu quan niệm như sau:

Từ đồng nghĩa là những từ tương đồng với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách,… nào đó, hoặc đồng thời cả hai.

Ví dụ:

– start, commence, begin (trong tiếng Anh)

– cố, gắng, cố gắng (trong tiếng Việt)

là những nhóm từ đồng nghĩa.

2. Những từ đồng nghĩa với nhau tập hợp thành một nhóm gọi là nhóm đồng nghĩa. Trong các ví dụ vừa nêu, ta có các nhóm đồng nghĩa của từng ngôn ngữ tương ứng.

2.1. Những từ đồng nghĩa với nhau không nhất thiết phải tương đương với nhau về số lượng nghĩa, tức là các từ trong một nhóm đồng nghĩa không nhất thiết phải có dung lượng nghĩa bằng nhau: Từ này có thể có một hoặc hai nghĩa, nhưng từ kia có thể có tới dăm bảy nghĩa. Thông thường, các từ chỉ đồng nghĩa ở một nghĩa nào đó. Chính vì thế nên một từ đa nghĩa có thể tham gia vào nhiều nhóm đồng nghĩa khác nhau: Ở nhóm này nó tham gia với nghĩa này, ở nhóm khác nó tham gia với nghĩa khác.

Ví dụ: Từ “coi” trong tiếng Việt là một từ đa nghĩa. Tuỳ theo từng nghĩa được nêu lên để tập hợp các từ, mà “coi” có thể tham gia vào các nhóm như:

+ coi – xem: coi hát – xem hát

+ coi – giữ: coi nhà – giữ nhà

2.2. Trong mỗi nhóm từ đồng nghĩa thường có một từ mang nghĩa chung, được dùng phổ biến và trung hoà về mặt phong cách, được lấy làm cơ sở để tập hợp và so sánh, phân tích các từ khác. Từ đó gọi là từ trung tâm của nhóm.

Ví dụ trong nhóm từ “yếu, yếu đuối, yếu ớt” của tiếng Việt, từ “yếu” được gọi là từ trung tâm.

Tuy nhiên, việc xác định từ trung tâm của nhóm không phải lúc nào cũng dễ và đối với nhóm nào cũng làm được. Nhiều khi ta không thể xác định một cách dứt khoát được theo những tiêu chí vừa nêu trên, mà phải dựa vào những tiêu chí phụ như: tần số xuất hiện cao (hay được sử dụng) hoặc khả năng kết hợp rộng.

Chẳng hạn, trong các nhóm từ đồng nghĩa tiếng Việt như: hồi, thuở, thời; hoặc chờ, đợi; hoặc chỗ, nơi, chốn,… rất khó xác định từ nào là trung tâm.

(Vấn đề trung tâm sẽ được nhắc lại ở điểm 3 tiếp theo).

3. Tập hợp đủ các nhóm từ đồng nghĩa, phân tích cho hết được những nét giống nhau, khác nhau giữa các từ trong mỗi nhóm, luôn luôn làm mong muốn của những người nghiên cứu và xử lí vấn đề từ đồng nghĩa.

Có nhiều thao tác ít nhiều mang tính kĩ thuật và nguyên tắc hoặc kinh nghiệm trong khi phân tích nhóm từ đồng nghĩa, nhưng tất cả đều nhằm vào mục đích chung của hai bước cơ bản sau đây:

3.1. Lập danh sách các từ trong nhóm

Mỗi nhóm đồng nghĩa có thể nhiều hay ít tuỳ theo tiêu chí đưa ra để tập hợp nhưng phải luôn luôn dựa vào nghĩa biểu niệm của từ.

3.1.1. Trước hết phải chọn một từ đưa ra làm cơ sở để tập hợp các từ. Từ này thường cũng chính là từ trung tâm của nhóm, chẳng những nó được lấy làm cơ sở để tập hợp các từu khác mà còn là cơ sở để so sánh, phân tích và giải thích chúng. Ví dụ: Với từ “sợ” của tiếng Việt, ta tập hợp thêm một số từ khác và lập thành nhóm đồng nghĩa: sợ – hãi – kinh – khiếp – sợ hãi – khiếp sợ – …

3.1.2. Khi lập nhóm đồng nghĩa phải luôn luôn cảnh giác với các cách diễn đạt đồng nghĩa, với các hiện tượng chuyển nghĩa có tính chất phong cách, tu từ. Đó là những trường hợp “đồng nghĩa ngữ cảnh” hoàn toàn có tính chất lâm thời và thuộc về kĩ thuật tạo lập văn bản, do phong cách học nghiên cứu. Ví dụ:

– Áo nâu cùng với áo xanh

Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.

3.2. Phân tích nghĩa của từng từ trong nhóm

Ở bước này phải phát hiện những tương đồng và dị biệt giữa các từ trong nhóm với nhau. Công việc cụ thể phải làm là:

3.2.1. Cố gắng phát hiện và xác định cho được từ trung tâm của nhóm. Từ trung tâm thường là từ mang nghĩa chung nhất, dễ dùng và dễ hiểu nhất. Về mặt phong cách, nó mang tính chất trung hoà. Chẳng hạn, trong nhóm “mồ – mả – mộ – mồ mả” thì “mộ” là từ trung tâm, vì nó đáp ứng được các đặc điểm vừa nêu.

Trong tiếng Việt, từ trung tâm có nhóm đồng nghĩa, nói chung có một số biểu hiện hình thức như sau:

•Nếu trong nhóm có cả từ đơn tiết lẫn đa tiết thì từ trung tâm thường là từ đơn;

•Nếu trong nhóm có những từ không có khả năng tạo từ phái sinh hoặc tạo từ phái sinh rất ít, thì còn lại, từ nào có khả năng phái sinh lớn nhất, từ đó cũng thường là từ trung tâm.

•Nếu một từ trực tiếp trái nghĩa với một từ trung tâm của một nhóm đồng nghĩa khác thì nó cũng sẽ chính là từ trung tâm trong nhóm của mình.

Chẳng hạn, xét hai nhóm:

1/ hiền – lành – hiền lành – hiền hậu – hiền từ – nhân hậu – nhân từ

2/ ác – dữ – độc ác – hiểm độc – ác nghiệt

Ta thấy ở nhóm 1, “hiền” là từ trung tâm vì nó thoả mãn tất cả những đặc điểm vừa nêu trên. Trong nhóm 2, “ác” sẽ được coi là từ trung tâm cũng vì những lí do như vậy và nó trái nghĩa với “hiền”.

Tuy nhiên, một từ đa nghĩa có thể đồng thời tham gia vào nhiều nhóm đồng nghĩa khác nhau nên có thể ở nhóm này nó là từ trung tâm nhưng ở nhóm khác thì lại hoàn toàn không có tư cách đó.

3.2.2. Lần lượt đối chiếu các từ trong nhóm từ trung tâm và đối chiếu giữa các từ không phải là từ trung tâm với nhau ta sẽ phát hiện những tương đồng và dị biệt về nghĩa. Sự tương đồng sẽ có ở tất cả mọi từ, còn dị biệt thì sẽ có ở từng từ trong nhóm. Vì thế, khi đối chiéu, ta nên đối chiếu với từ trung tâm trước, như so sánh với một mẫu số chung vậy.

Sự dị biệt giữa các từ đồng nghĩa nhiều khi rất tinh tế và khó phát hiện. Thường gặp nhất là những dị biệt sau đây:

+ Dị biệt về một số sắc thái ý nghĩa bổ sung như: mức độ trừu tượng, khái quát của khái niệm; hoặc phương thức, công cụ, chủ thể tiến hành, tiếp nhận hành động; hoặc thái độ của người nói đối với người nghe; hoặc sự đánh giá của người nói,…

Ví dụ: xét hai từ “cố” – “gắng”.

Nét chung của hai từ này là: Đưa sức ra nhiều hơn bình thường để làm cho được việc gì đó.

Nét riêng (dị biệt) của “cố” so với “gắng” là ở mục đích của hành động này: làm cho kì được, kì xong công việc mà chủ thể biết là khó khăn. Ví dụ: cố làm cho xong, cố quên những việc không vui đi, cố nhớ lại xem hôm qua đã nói gì.

Nét dị biệt của “gắng” so với “cố” là: làm cho tốt công việc mà biết là nên làm. Chẳng hạn, có thể nói: gắng lên chút nữa học cho giỏi, gắng chịu đựng khó khăn để động viên nhau.

+ Dị biệt về phạm vi sử dụng hoặc sắc thái phong cách, thái độ bình giá của người nói. Ví dụ:

“quả” – “trái”: “quả” có phạm vi sử dụng rộng hơn “trái”

“phụ nữ” – “đàn bà”: “phụ nữ” có sắc thái trang trọng hơn “đàn bà”.

+ Dị biệt về khả năng kết hợp cú pháp và kể cả kết hợp từ vựng. Ví dụ:

Ta có: trái na, trái bưởi, mặt trái xoan,.. nhưng không thể có: *trái chuông, *trái trứng vịt, *mặt quả xoan,…

Ta có: một mực, rất mực, mẫu mực, mức sống, mức lương, định mức, vượt mức,… chứ không có: *một mức, *rất mức, *mẫu mức, *mực sống, *mực lương, *định mực, *vượt mực,… mặc dù hai từ “mức” và “mực” là hai từ đồng nghĩa, trong rất nhiều trường hợp chúng thay thế được nhau.

4. Nhận biết để tập hợp, phân tích thấu đáo các nhóm đồng nghĩa sẽ giúp cho người ta sử dụng được chuẩn xác và tinh tế hơn, phù hợp với tâm lí và thói quen của người bản ngữ hơn. Điều đó rất quan trọng đối với việc dạy và học tiếng.

(Nguồn: ngonngu.net)

———————————————————————————————————

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997.

Vân vân (v.v.) và chấm lửng (…)

Posted: Tháng Mười 13, 2011 in Ngôn ngữ

Vân vân (v.v.) thì ai cũng dùng, trong bất cứ thể văn nào, nhưng hình như mỗi người hiểu một cách, cho nên cách dùng cũng không hoàn toàn giống nhau. Điều này lộ rõ nhất là ở cách chấm câu sau hai chữ vân vân hay v.v. Một số khá đông tác giả, nhất là khi viết báo, có thói quen viết “v.v…” hay “vân vân…” trong mọi trường hợp, nghĩa là sau hai chữ ấy bao giờ cũng có ba chấm (chấm lửng). Cũng có nhiều người thay hẳn v.v. bằng ba chấm, nhất là sau một “danh sách” gồm hai từ trở lên.

Vậy vân vân (v.v.) nghĩa là gì, và ba chấm lửng nghĩa là gì ? Những quy tắc chi phối cách dùng hai yếu tố này có thể được trình bày ra sao?

Hình như mọi người nhất trí về nghĩa và cách dùng của vân vân : đó chính là nghĩa và cách dùng của etc. (et caetera), et al. (et alii), and so on, and the like, i tak dalee, i tomu podobnọe, i drugịe, đẳng, đẳng đẳng, chư như thử loại, v.v. trong các thứ tiếng gần gũi nhất với sinh hoạt văn hoá của ta. Những từ ngữ này có nghĩa là “và những thứ khác”, “và những việc khác”, “và những người khác”, “và những thứ tương tự”, ” và những người tương tự”, “và những việc tương tự”, “và cứ thế mà tiếp”, v.v. Trong tất cả các bản dịch từ ngoại văn ra tiếng Việt, ta đều thấy có sự tương ứng hoàn toàn như vậy, không trừ một trường hợp nào.

Những từ ngữ ngoại quốc nói trên , cũng như vân vân trong tiếng Việt, do chính ý nghĩa từ vựng và công dụng của nó, đều được dùng như một ngữ đoạn bình thường có quan hệ đẳng kết (kết hợp đẳng lập) với các ngữ đoạn đi trước, và sau đó có thể có bất cứ thứ dấu chấm câu gì (phẩy, chấm phẩy, chấm, hai chấm, chấm hỏi, chấm than, gạch ngang) hoặc tiếp tục câu không có chỗ ngưng nghỉ, nghĩa là không có dấu chấm câu gì hết. Trong tất cả các thứ tiếng nước ngoài mà ta biết rõ, tình hình đều như thế. Vậy thì tại sao chỉ riêng trong tiếng Việt có một cách xử lý khác như đã nói trên?

Có hai nguyên nhân chính: một là nghĩa của hai chữ vân vân không rõ lắm; hai là khi viết tắt là v.v. mà sau đó lại có một dấu chấm hết câu (v.v..) , nhiều người đếm nhầm thanh hai dấu chấm ấy thành ba, nghĩa là thành một dấu chấm lửng.

Vậy thiết tưởng các tác giả cũng nên chỉnh lý lại một chút cách dùng chấm câu sau khi dùng vân vân hay v.v. Chúng tôi xin lấy một vài câu có dùng v.v. để minh hoạ cho những cách dùng v.v. và chấm câu đúng chuẩn.

a. Ai đã phát minh ra những khí cụ ghi âm như băng từ, thanh phổ ký, v.v.?

b. Mọi người: Thầy Nam, thầy Bình, cô Thi, v.v. đều tán thành .

c. Rất, hơi có thể kết hợp với những vị từ như yêu, thương, buồn, giận, v.v.

d. Phải gọi cả Minh, Định, Thành, v.v. đến dự nhé!

e. Không thể thiếu tổ 4 – Minh , Định, Thành, v.v.: họ phải làm chứng chứ!

g. Muốn thế cần gì phải học ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa, vân vân và vân vân?

h. Nó đi chợ mua thịt bò, rau cần, v.v. về để làm món xào.

Còn như dấu chấm lửng ( “…” ) , thì ý nghãi không phải như vậy. Nó đánh dấu một chỗ ngừng của người nói, cho biết rằng câu nói chưa hết (vì bị ngắt lời chẳng hạn), hoặc khi có sự phân vân hay ngần ngại khiến cho người nói thấy khó nói hết câu. Chẳng hạn :

a. – Này! Tôi cho anh biết một chuyện bí mật của cô…

– Thôi đi, tôi không nghe đâu!

b. – Anh mà cũng thế thì thật là…

Nếu “người nói” chính là tác giả (tức thật ra là người viết) thì đó có thể là một biện pháp tu từ có dụng ý, thường dùng trước khi “hạ một đòn” mà người viết cho là có sức gây ấn tượng mạnh (ngạc nhiên, thán phục, v.v.). Chẳng hạn:

Tính thành ngữ không thể dùng để chứng minh một cụm từ là một từ. Vì “tính thành ngữ” là đặc trưng của… thành ngữ, và thành ngữ bao giờ cũng gồm hai từ trở lên.

Dấu chấm lửng không thể dùng sau v.v. nếu không muốn nói rằng câu chưa kết thúc, cũng ko thể thay cho v.v. để nói rằng “còn có những thứ/những việc/ những người khác nữa”.

Cao Xuân Hạo

Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống 1 (51) 2000

Sách Tiếng Việt, văn Việt, người Việt (NXB Trẻ, 2001)

Từ trái nghĩa

Posted: Tháng Mười 10, 2011 in Ngôn ngữ

1. Vốn là một hiện tượng không hoàn toàn đơn giản, các quan niệm về từ trái nghĩa đã được đưa ra cũng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Tuy vậy, nét chung được đề cập trong tất cả các quan niệm là: sự đối lập về nghĩa.

 

Quan niệm thường thấy và được đa số chấp nhận, được phát biểu như sau:

 

Từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa đối lập nhau trong mối quan hệ tương liên. Chúng khác nhau về ngữ âm và phản ánh những khái niệm tương phản về logic.

 

Ví dụ: cao và thấp trong câu dưới đây là hai từ trái nghĩa:

 

Bây giờ chồng thấp vợ cao

Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

 

2. Quan niệm nêu trên, suy ra rằng: Những từ có vẻ đối lập nghịch nhau về nghĩa nhưng không nằm trong thế quan hệ tương liên thì nó không phải là hiện tượng trái nghĩa. Chẳng hạn, trong các câu: nhà này tuy bé mà xinh; cô ấy đẹp nhưng lười,… thì bé – xinh, đẹp – lười có vẻ đối nghịch nhau, nhưng chúng không phải là những hiện tượng trái nghĩa, vì không nằm trong quan hệ tương liên. Ngược lại, hai từ cao và thấp lại là trái nghĩa, vì chúng nằm trong quan hệ tương liên.

 

Những từ được cấu tạo bằng phụ tố, tạo ra những cặp từ có nghĩa ngược nhau (ví dụ như care – careless trong tiếng Anh) đều là những từ trái nghĩa cùng gốc. Chúng là kết quả của hiện tượng phái sinh trong từ vựng. Từ vựng học, trong trường hợp cần thiết, có thể đề cập tới hiện tượng này, nhưng mục tiêu nghiên cứu cơ bản của nó vẫn phải là những từ trái nghĩa khác gốc, tồn tại với tư cách của một kiểu tổ chức trong từ vựng, như: cao – thấp, ngắn – dài, dại – khôn, xấu – đẹp,…

 

3. Trong các nhóm từ trái nghĩa, không có từ trung tâm như trong nhóm đồng nghĩa. Mỗi từ ở đây có thể được hình dung như là nằm ở vị trí của một âm bản hay dương bản của nhau vậy. Từ này là một tấm gương phản chiếu của từ kia, và ngược lại.

 

Ví dụ:

 

– “buồn”: Có tâm trạng tiêu cực, không thích thú của người đang gặp đau thương hoặc gặp việc không ưng ý.

 

– “vui”: Có tâm trạng tích cực, thích thú của người đang gặp việc mình thích hoặc điều gì đó được như ý.

 

Vì thế, trong mỗi nhóm từ trái nghĩa sẽ chỉ gồm hai từ, và thường được gọi là một cặp trái nghĩa. Trong mỗi cặp như vậy, hai từ thường có quan hệ đẳng cấu nghĩa với nhau. Đặc điểm này chẳng những làm cho dung lượng nghĩa của chúng tương đương nhau mà kéo theo cấu trúc hình thức của chúng cũng thường tương đương hoặc gần tương đương nhau. So sánh:

 

+ nặng – nhẹ; nặng nề – nhẹ nhàng; buồn bã – vui vẻ;

 

+ high – low; fat – thin; long – short;…

 

Nói rằng hai từ trái nghĩa nhau tương đương với nhau về dung lượng nghĩa thì không phải chúng nhất thiết phải có số lượng nghĩa bằng nhau. Điều quan trọng là cái nghĩa làm cho hai từ đi vào quan hệ trái nghĩa, phải có dung lượng tương đương nhau. Bởi vậy, cũng như hiện tượng đồng nghĩa, ở đây, một từ đa nghĩa có thể tham gia vào nhiều cặp trái nghĩa khác nhau. Điều này cũng ngụ ý rằng một từ nào đó, có quan hệ trái nghĩa với nhiều từ trong nhóm đồng nghĩa. Ví dụ:

 

+ mềm – cứng; mềm – rắn (mềm nắn rắn buông);

 

+ già – trẻ; già – non (già giái non hột)…

 

4. Việc xác định các cặp trái nghĩa có nhiều phức tạp nên không thể dựa hẳn vào một tiêu chí nào đó. Thông thường, người ta hay dựa vào những tiêu chí sau đây:

 

4.1. Nếu hai từ là trái nghĩa thì chúng cùng có khả năng kết hợp với một từ khác bất kì nào đó mà quy tắc ngôn ngữ cho phép. Suy rộng ra là chúng phải cùng có khả năng xuất hiện trong một ngữ cảnh:

 

Ví dụ: người khôn – người dại; bóng tròn – bóng méo; no bụng đói con mắt; dốt đặc hơn hay chữ lỏng;…

 

Nếu hai từ là trái nghĩa thì chúng phải đảm bảo mối quan hệ liên tưởng đối lập nhau một cách thường xuyên và mạnh; bởi vì mỗi từ trong cặp trái nghĩa như là tấm gương phản chiếu của từ kia. Ở đây, để giảm bớt đến mức tối đa tính chủ quan của cái gọi là quan hệ liên tưởng, ta có thể thực hiện thêm hai thủ tục kiểm tra:

 

4.1.1. Phân tích nghĩa của hai từ đó xem chúng có đẳng cấu với nhau không.

 

4.1.2. Trường hợp nhiều liên tưởng và cũng bảo đảm tính đẳng cấu về nghĩa thì cặp liên tưởng nào nhanh nhất, mạnh nhất, có tần số xuất hiện cao nhất,… sẽ được gọi là trung tâm, đứng đầu trong chuỗi các cặp trái nghĩa.

 

Ví dụ:

 

cứng – mềm: Chân cứng đá mềm

 

cứng – dẻo: Thép cứng thay cho thép dẻo

 

cứng – nhũn: Khi quả xanh, vỏ cứng; khi chín, vỏ nhũn…

 

Trong ba cặp liên tưởng này, cặp “cứng – mềm”phải đứng ở vị trí trung tâm, vị trí hàng đầu.

 

4.3. Đối với từ trái nghĩa tiếng Việt, ngoài những tiêu chí nêu trên, còn có thể quan sát và phát hiện chúng qua những biểu hiện bổ sung như sau:

 

– Về mặt hình thức, hai từ trái nghĩa trong cặp thường có độ dài bằng nhau về số lượng âm tiết, rất ít khi lệch nhau;

 

– Nếu cùng là từ đơn tiết thì hai từ trong cặp trái nghĩa lại thường đi đôi với nhau, tạo thành những kết hợp như: dài ngắn, trẻ già, sớm muộn, đầu cuối, ngược xuôi, lớn bé,… biểu thị nghĩa khái quát tổng hợp, bao gồm hết các đối tượng “từ A đến Z” trong một phạm trù của đời sống và thế giới.

 

– Trừ vài ba cặp từ như: hồng hào – xanh xao, nhã nhặn – tục tằn,… còn nếu hai từ A và B là trái nghĩa thì:

 

+ Hoặc là cả hai cùng không có cấu tạo từ láy;

 

+ Hoặc là một bên có, một bên không;

 

+ Hoặc cả hai bên cùng có âm tiết láy sẽ không cùng khuôn vần.

 

Ví dụ: ra – vào, trong – ngoài, lên – xuống, mừng – lo, mừng – lo lắng; lành – rách; lành lặn – rách rưới,…

 

5. Nghiên cứu các từ trái nghĩa không thể bỏ qua trường hợp những từ vốn không trái nghĩa với nhau, nhưng trong một số ngữ cảnh chúng lại được dùng với tư cách những cặp trái nghĩa, chẳng hạn: đầu voi đuôi chuột, mặt sứa gan lim, miệng hùm gan sứa,…

 

Những từ như thế, người ta vẫn quen gọi là trái nghĩa ngữ cảnh, tức là chúng chỉ nằm trong thế đối sánh trái nghĩa tại một vài ngữ cảnh nào đó, chứ không phải là một quan hệ ngữ nghĩa trong tổ chức ngữ nghĩa của từ vựng. Cơ sở hình thành mối quan hệ trái nghĩa ngữ cảnh chính là ở các nghĩa ẩn dụ, hoán dụ, những biểu trưng,… của từ, nảy sinh trong từng ngữ cảnh cụ thể đó. Ví dụ:

 

    Chồng người xe, ngựa người yêu

Chồng tôi áo rách tôi chiều tôi thương

 

Tình hình trên đây dẫn đến một hệ quả là: Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ đã có vô cùng nhiều trường hợp thiết lập và dùng trái nghĩa ngữ cảnh. Có thể gọi chúng là những từ đối nghĩa. Tính chất đối nghĩa này thể hiện rõ rệt nhất trong những lối nói muốn làm nổi bật sự đối lập giữa hai vế, hai mặt, hai đối tượng,… nào đó, mà người Việt rất hay dùng. Ví dụ: “Gò với núi cũng kể là cao, bể với ao cũng kể là trũng”; “Đói lòng ăn nắm lá sung; Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng”; “Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết”; “Sổng cục đất mất cục vàng”…

(Nguồn: ngonngu.net)

———————————————————————————————–

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997.