Archive for the ‘Chưởng môn Lê Sáng’ Category

Xin trân trọng giới thiệu Tuyển tập thơ Nhớ Nguồn của thi sĩ Quang Vũ:

• Tổng hợp các bài thơ chọn lọc của Thi sĩ Quang Vũ (Võ sư Lê Sáng – Chưởng môn Vovinam Việt Võ Đạo). Gồm 98 bài thơ chọn lọc và nhiều hình ảnh của Thi sĩ với môn đồ và thân hữu trong nước cũng như các chuyến đi Âu châu, Mỹ châu, và Úc châu.
• Đây là những tác phẩm thi ca tâm huyết nhất của Võ sư Chưởng môn Lê Sáng, một di sản môn phái Vovinam mà tất cả môn sinh ai cũng nên thưởng thức.
• Tuyển tập thơ ra đời nhằm bảo tồn vốn quý của Môn phái và tri ân Chưởng môn Lê Sáng nhân dịp kỷ niệm 5 năm Thầy vĩnh biệt chúng ta.
• Các công đoạn sưu tập, dàn trang, thiết kế bìa… đều do các môn sinh Vovinam tự nguyện đóng góp. Sau khi trừ chi phí trả cho nhà xuất bản, tất cả số tiền thu được đều chuyển vào quỹ sinh hoạt của Hội đồng võ sư Tương trợ hải ngoại.
• Rất mong quý bạn đọc, thân hữu và đồng môn xa gần nhiệt tình ủng hộ.

Thơ Quang Vũ – một triết lý nhân bản

Quang Vũ là bút danh của cố Võ sư Lê Sáng – Chưởng Môn Vovinam Việt Võ Đạo. Ông là môn đệ thân tín và xuất sắc của Võ sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc và đã được giao phó trọng trách lèo lái môn phái Vovinam Việt Võ Đạo, và đã vượt qua biết bao thử thách và phát triển thật mạnh mẽ từ nhiều thập niên qua. Tên tuổi của ông đã gắn liền với sự nghiệp võ học Việt Nam.

Bằng những nét chữ bay bướm, ông đã sáng tác rất nhiều bài thơ mang cảm xúc trầm lắng và chất chứa tinh thần thượng võ và đượm triết lý nhân bản. Nhà thơ Quang Vũ thường ghi lại những tâm tư của mình qua những bài thơ tràn đầy cảm xúc, có khi trầm lắng, có lúc cảm khái thênh thang, và có lúc đanh thép không lay chuyển. Từng trải hơn 90 năm cuộc đời, ông đã chứng kiến bao cuộc đổi đời, khóc cười với mệnh nước nổi trôi, hồn thơ của Quang Vũ là hiện thân của tinh thần ‘uy dũng bất năng khuất’ của tiền nhân, của một tâm hồn am hiểu tinh túy triết lý phương Đông, của một niềm tin vô cùng kiên định vào tương lai của đất nước và dân tộc.

Sự nghiệp thi ca của nhà thơ Quang Vũ còn lưu lại khoảng trên 100 bài thơ. Trong số đó, nhiều bài đã được phổ thành nhạc. Nhân cách sống của ông sẽ được lưu truyền dài lâu qua những dòng thơ chất chứa lòng bao dung, độ lượng, lạc quan, và thanh thoát.

Môn sinh Lê Đức Hòa

Chi tiết:
• Tuyển tập thơ: Nhớ Nguồn
• Tác giả: Thi sĩ Quang Vũ (cố Võ sư Lê Sáng Chưởng môn Vovinam Việt Võ Đạo)
• Sách gồm 120 trang, khổ 6’’x9’’ (21.59 x 21.59 cm)
• Ngôn ngữ: Tiếng Việt
• Giá: 15.00 USD + cước phí
• Bấm vào đây để mua sách: https://www.createspace.com/5869661

Introduction of Quang Vu’s poetry:
• A selected poems collection of poet Quang Vu (pen name of Grand Master Lê Sáng of Vovinam Việt Võ Đạo). The book consists of 98 selected poems and many photos of the poet with his disciples and friends in Vietnam as well as from his travel to Europe, America, and Australia.
• These poems represent Grand Master Le Sang’s best works in poetry, a heritage which all Vovinam disciples everywhere should appreciate.
• The poems is published in honoring and paying tribute to Grand Master Le Sang as we commemorate the 5th anniversary of his passing.
• The collection work, layout, cover design and all editing works… were contributed voluntarily by many Vovinam disciples worldwide. All proceeds, after publishing expenses, will be transferred to the fund of Overseas Vovinam Viet Vo Dao Management Council.
• We hope you, fellow students and friends of Vovinam will enthusiastically support this book.

Details:
• Poem Collection: Nho Nguon
• Author: Poet Quang Vu (also known as Grandmaster Lê Sáng of Vovinam Việt Võ Đạo)
• The book consists of 120 pages, in paper size: 6”x9 ” (21:59 x 21:59 cm)
• Language: Vietnamese
• Price: $15.00 USD + shipping fees
• Please click thís link to purchase: https://www.createspace.com/5869661

“VưỢT muôn trùng mênh mông”

Trong thế giới thi ca, nhà thơ Quang Vũ có thể là một cái tên còn xa lạ đối với nhiều thế hệ trẻ, nhưng trong đời thường với vai trò một Chưởng môn nhân, danh tính của ông – Lê Sáng – gần như đã bất khả phân ly với môn phái Vovinam – Việt Võ Đạo và người thầy của mình là Sáng tổ Nguyễn Lộc.

Như một đứa trẻ thích nghe chuyện cổ tích dù ở bất cứ lúc nào khi tôi có dịp được nghe thầy tôi (võ sư Diệp Khôi) kể lại những giai thoại và những kỷ niệm sinh hoạt của cá nhân ông với nhà thơ Quang Vũ, thì tôi không khỏi say mê đưa trí tưởng tượng của mình, đi ngược dòng thời gian để tìm về những khoảnh khắc đó, để cố hình dung ra những gì mình có thể cảm nhận được về tâm hồn, lối suy nghĩ và lối sống của ông. Nhưng cũng như bao lần tôi cũng chỉ có thể tìm được những mảnh vụn của một bức tranh không toàn diện…

Thật là một duyên may khi tôi cầm trên tay tuyển tập thơ Nhớ Nguồn này của nhà thơ Quang Vũ. Tuy chỉ với một số lượng khiêm nhường – 98 bài đã được tìm và thu thập lại từ Thư khố của Tổ đường Vovinam – Việt Võ Đạo, tôi bắt đầu hành trình đi tìm cái hồn của ông qua những vần thơ mà ông đã trải lòng theo năm tháng, trên những bước đường xuôi ngược của ông.

Thơ của Quang Vũ có thể nói là những vần thơ hiếm gặp vì chúng không hề mang những chất tố lãng mạn, trừu tượng, than thân trách phận hoặc bi ai của những loại thơ viết về tình yêu, thân phận hoặc cường điệu với tình yêu quê hương. Ông không dùng những sáo từ hoặc cố trau chuốt câu thơ cho chúng được hoa lệ, mỹ miều. Ngược lại, lời thơ của ông chân thật, giản dị, nhưng rất thiết tha và sâu lắng, dễ đi thẳng vào cảm xúc của người đọc. Đôi lúc ta có thể cảm được hào khí dâng lên như sóng cuộn của ông với những trăn trở muốn xây dựng con người để làm vẻ vang đất Việt. Thơ của ông đôi lúc lại mang lên nét thanh thoát, độ lượng, yêu vạn vật, yêu thương con người và nhất là luôn hướng thượng nhưng lại gần gũi với đời thường hơn bao giờ hết.

Tôi đã tìm được ở nơi ông, tâm hồn của một chàng trai trẻ trong thời loạn khi mà trong đôi mắt của ông, sự thanh bình của quê hương bị chà đạp bởi gót ngoại xâm:

Đây xóm ngõ còn vang tiếng thép

Đường lao đao ứa máu sẹo quanh mình

Những vết châu răng, những gót giày đinh

Đã chà đạp lên thanh bình khoáng hoạt

(Mảnh đất quê hương)

Nhưng ông đã không cam lòng để đứng nhìn và rên siết mà đã chọn con đường dấn thân. Tuy nhiên, con đường ông đi cũng đã thăng trầm theo vận nước. Đối diện với thử thách chông gai mà trong đó còn có nỗi đau bỏ lại nơi chôn nhau cắt rốn, ông đã không khỏi ngậm ngùi khi phải đôi lần chọn cuộc sống ẩn dật để tự gẫm đâu là sự cô đơn, đâu là lý tưởng nhiệm mầu, và ngay cả sự giằng co trong tâm tưởng giữa một buông xuôi tất cả để sống thanh thản với thiên nhiên quên thế sự, hay vẫn tiếp tục đi xây dựng một ngày mai tươi đẹp:

Tôi đã sống hai lần trong mộng ước

Hai lần mang hai sắc thể khác nhau

Một – lẩn trốn cuộc đời tìm thủy nhược

Một – dựng xây cuộc sống mới muôn màu

(Nương cánh thời gian)

Ông đã vượt qua sự chơi vơi đó để tiếp tục hành trình đi xây dựng người, xây dựng đời vì ở nơi ông luôn là một niềm tin bất diệt:

Hãy nhìn ta dung chứa bao tàn tạ

Của cuộc đời… đổ vỡ ngợp hồn ta

Ta thản nhiên dựng đài cát nguy nga

Lòng khăng khít với niềm tin bất diệt

(Niềm tin của đất)

Trong thơ Quang Vũ, tôi luôn tìm thấy sự hiện hữu của Trung – Hiếu – Nghĩa ở nơi ông. Sự trung thành với quê hương đất nước và lý tưởng xây dựng đời ở nơi ông đôi lúc cuồn cuộn dâng trào như những sóng triều dồn dập nhưng có lúc lại nhẹ nhàng và giản dị:

Đi qua làng cũ phải xuống ngựa

Xin muôn đời thao thức với quê hương

Xin vòng tay ôm hào khí đầy hồn

Xin làm sông nhớ mãi nước trong nguồn…

(Nhớ nguồn)

Ở nơi ông luôn là niềm hãnh diện của người con đất Việt, ông luôn khuyến khích các thế hệ phải sống sao cho xứng dòng Rồng Tiên. Ở mọi nẻo đường đất nước nơi ông đến đều là một gợi nhớ về những chiến tích oai hùng của tiền nhân. Một Đinh Bộ Lĩnh ở tuổi 16 của miền Bắc, những Trần Quang Diệu, Võ Tánh, Đặng Dung, Quang Trung của miền Trung hoặc là một hồn thiêng Nhật Tảo của miền Nam. Trong trái tim ông luôn là một ngọn lửa bừng cháy hừng hực với những ước vọng cống hiến cho gia đình, cho Môn phái, cho Tổ quốc và cho nhân loại. Ngọn lửa nhiệt huyết của một thời trai trẻ chưa đủ, ông muốn nó cháy hào hùng và sinh động cho đến tận cùng:

Đầy sức sống nên chưa thể chết

Nhiệt huyết còn đâu đã già nua

Như thuở nào vượt mọi hơn thua

Ta luôn sống hào hùng sinh động

Đầu đội bổng bầu trời cao rộng

Chân đạp bằng mặt đất mênh mang

Mắt phóng xuyên biển cả ngút ngàn

Tim óc hướng gia đình, Tổ quốc

(Ước vọng)

Và cũng vì một dòng sông ‘nhớ mãi nước trong nguồn’, chữ hiếu của ông đối với mẹ mình không phải chỉ đơn thuần là ơn dưỡng dục mà còn là một tiêu khúc để nhắc nhở ông sống thiện, thanh cần và phải biết sống vì người. Cho nên ở trong tâm khảm của ông khi nghĩ về mẹ, ông đã phải thốt lên:

Mẹ hiền ơi! Mẹ hiền ơi!

Lòng mẹ yêu con ngàn sao rúng động

Lòng con yêu mẹ biển trời mênh mông

(Tình mẹ con)

Cái nghĩa của ông đối với người và nhất là đối với Thầy của mình (Sáng tổ Nguyễn Lộc) phải luôn là một truyền thống ‘tôn sư trọng đạo’ khi ông khẳng khái:

Truyền thống xuyên qua mọi thế thời

Tôn sư trọng đạo một dòng trôi

Ân cao, nghĩa cả công thầy dạy

Mệnh trọng tình thâm ý tô bồi

                                                     (Tôn sư trọng đạo)

Và cũng ở cái ‘nghĩa’ đó, phải chăng ông cũng đã nhẹ nhàng nhắc nhở tình thầy trò gặp nhau cũng bởi lẽ từ thiện duyên mà có. Người thầy sẽ luôn là một chuyến đò đưa những học trò vượt qua những con sông học hỏi để vươn tới hoàn thiện. Nhưng cho dù khi trò đã đạt được những thành quả vượt trội, thì cũng không nên quay lưng phụ thầy. Cái lý lẽ đơn giản mộc mạc này không chỉ nhìn thấy giữa mối tương quan của thầy và trò mà còn ngay cả người với người:

Nhắc ai xin chớ có quên

Qua sông chớ phụ thiện duyên đưa đò

(Đưa đò)

Sự Trung-Hiếu-Nghĩa của nhà thơ Quang Vũ qua những vần thơ của ông khi toát ra từ trái tim ông không chỉ vì một lẽ đơn thuần là chúng xuất phát từ tư duy của ông, mà vì ông đã ‘ngộ’ được cái Đạo (Việt Võ Đạo)! Cũng vì vậy phần lớn thơ của ông mang đậm nét về Đạo. Ông xiển dương, quảng bá, và khẳng định rằng Đạo là niềm tin, là con đường để xây dựng lại con người theo chủ thuyết Cách mạng Tâm Thân. Nhưng không vì thế mà những vần thơ của ông lại nặng nề với những triết lý cao siêu. Người đọc không cần phải đi tìm một Trung Dung luận của Khổng Tử hoặc một Nam Hoa Kinh của Trang Tử để quán triệt điều ông muốn gởi gấm về Đạo. Vì lẽ Đạo sống theo cái nhìn của ông chung quy là:

Cùng nhắm hướng tương lai

Làm – lại – cuộc – đời!

Niềm tin của bản thân ta thăng hoa

Là hoa nở trên đạo sống

Là Cách mạng Tâm Thân

Là lý tưởng

Là ước vọng

Là tình yêu

Là không gian hơi thở

Vượt lên ngàn biến động Hủy – Hưng

(Niềm tin vươn cao)

Tuy tâm hồn ông thấm nhuần với Đạo được hình thành từ những triết lý Đông phương của Lão Tử, Mặc Tử, Trang Tử và Khổng Tử, nhưng trái tim ông lại không hề tách rời khỏi hồn Việt:

Người đi học Lão

thành Dương? Mặc?

Về đến bờ xuân

thấy trống đồng

Lòng đất vang lên

lời Khổng Tử

Mắt nhìn lóng lánh hạt non sông!

(Học Đạo)

Thông thường ‘ngộ’ Đạo đã là khó nhưng để ‘sống’ được với Đạo lại càng khó khăn muôn phần. Nhưng có thể nói, nhà thơ Quang Vũ đã đạt được cả hai. Ông gói trọn vẹn cả hai Vũ trụ quan và Nhân sinh quan của môn phái Vovinam – Việt Võ Đạo nói chung, cũng như của riêng cá nhân ông trong bài Tâm kinh Việt Võ Đạo. Khi đọc qua bài này có lẽ có người sẽ hỏi rằng làm sao biết ông đã sống được với Đạo? Tôi xin mạn phép thưa rằng, vì ông đã  “Việt ngã – Độ tha – Thăng hóa” để đi đến cảnh giới của thanh thoát:

Cảm ứng trước đạo Trời

Sống tròn nghĩa làm người

Đến chấp nhận thử thách

Đi không chút bùi ngùi

(Thanh thoát)

Ông đã sống trọn với Đạo nghĩa, với đời, với người, với muôn vạn môn đệ của mình khắp năm châu và nhất là ông đã hoàn thành sứ mạng mà người Thầy của ông đã giao phó. Chính vì thế, ông không còn gì phải bâng khuâng tiếc nuối!

Và cũng ở sự thanh thoát đó hỏi mấy ai ở trên đời đã có thể:

Của thế gian để lại

Phủi nhẹ bàn tay không

Hồn lâng lâng sảng khoái

Vuợt muôn trùng mênh mông

(Thanh thoát)

Đạo là căn bản, là nội dung chủ đạo nhất trong thơ Quang Vũ. Nhưng không chỉ thế, thơ của ông còn có những suy tưởng về tình gia đình, tình bạn… Hoặc trà, sách, hoa… đều mang đến cho ông không ít cảm xúc mà chúng ta sẽ trở lại sau này.

Phiêu lãng theo những dấu chân của nhà thơ Quang Vũ đã lưu lại trên con đường “Đi Làm Lại Con Người” qua 98 bài thơ trong số hàng trăm bài thơ ông đã sáng tác, tôi không dám cường điệu để cho rằng ông đã đạt được cái ‘Chân – Thiện – Mỹ’ trong cuộc sống. Nhưng tôi tin chắc một điều rằng cho suốt quãng đường hữu hạn của một đời người, ông đã luôn hướng về nó để sống một cách trọn vẹn và hào hùng.

Xin ghi lại đôi dòng cảm nhận ban đầu này thay cho nén hương thành kính tưởng niệm lần thứ 5 ngày nhà thơ Quang Vũ ‘vượt muôn trùng mênh mông’…

Nhạc sỹ Thụy Phong

Melbourne – Australia

(Tháng 10-2015)

Advertisements

Sau khi dự Lễ tưởng niệm Chưởng môn Lê Sáng lần thứ 4, hôm sau (14-9-2014), tôi và con gái Nguyễn Kim Thanh cùng các đồng môn Mã Thị Ngọc Liêng, Nguyễn Thị Phụng (Kiên Giang), Thiều Thị Tân, Diệp Thanh Long, Phạm Ngọc Thành, Cao Văn Nam. Nguyễn Tiến Khoa và vợ chồng cô Nguyễn Ngọc Phước (TPHCM)… đã từ TPHCM ra huyện Tân Thành (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) thăm khu đất ở Núi Dinh – nơi Chưởng môn Lê Sáng đã mua và dự định xây dựng Tổ đình với diện tích đất khoảng 6.000m vuông… Trước đây, khi thầy Chưởng môn còn tại thế, một số võ sư nhiều lần rủ tôi cùng đi, nhưng lần lữa tôi đều không đi được. Chẳng hiểu sao, sau Lễ tưởng niệm Thầy lần thứ 4, lòng tôi lại thấy nao nao và quyết định ra nơi đó. Cái “duyên” ấy đã đến với tôi như từ sự dẫn dắt của Thầy.

Thật lòng, đến nơi rồi mới thấy được tầm nhìn xa trông rộng của Thầy chúng ta. Phong cảnh Núi Dinh thật hữu tình, mảng xanh trải rộng từ ngoài vào trong sân tập lên đến tận đỉnh Bao Quang. Nơi đây đúng là lá phổi xanh của huyện Tân Thắng, bao quanh khu đất có khá nhiều ngôi chùa, đặc biệt Khu du lịch Tâm Linh với dòng suối mát trong xanh chảy quanh đang được hình thành, bên cạnh là ngôi chùa Thái do chính Công chúa người Thái Lan đề nghị xây dựng, uy nghi, trang nghiêm, tuyệt đẹp với bàn tay sáng tạo của con người hòa quyện với núi rừng thiên nhiên.

CLB Vovinam-Việt Võ Đạo Núi Dinh

CLB Vovinam-Việt Võ Đạo Núi Dinh

Dừng chân nơi phòng tập vừa mới tu bổ lại – chắc chắn và khang trang – với bảng tên “CLB VOVINAM – VIỆT VÕ ĐẠO NÚI DINH”, chúng tôi cảm thấy thật ngon miệng với tô mì gói vẫn còn bốc khói từ tay vợ chồng cháu Trần Ngọc Tùng – con võ sư Trần Ngọc Trình… Theo con đường mòn, chúng tôi lại tiếp tục khám phá núi rừng thiên nhiên. Qua chiếc cầu nhỏ, nhìn dòng suối thuộc Khu du lịch Tâm Linh nối liền hướng theo mũi tên vẽ chữ VOVINAM trên đá mà lên núi để đến tận cùng mảnh đất đã in dấu chân Chưởng môn lúc sinh tiền.

Có lẽ đôi chân mạnh khỏe hơn chăng, tôi cùng con gái Kim Thanh leo lên núi trước, đến cổng chùa Bạch Vân (đang đóng cửa) trên đỉnh Bao Quang, mà người sáng lập ra ngôi chùa này cũng tên Bạch Vân. Nhìn lại, không thấy bóng mấy đồng môn; sợ lạc, tôi và con gái lại xuống thì thấy anh chị em đang ngồi nghỉ chân và trò chuyện cùng một tu sĩ trên chính mảnh đất phân định địa giới của Vovinam, mà Thầy cùng các môn đồ Vovinam khắp nơi chung góp và tạo dựng.

Động viên mọi người tiếp tục hành trình, đã đi thì rán lên đến tận nơi. Lại quay lên đỉnh Bao Quang, lúc nầy chỉ còn hai cha con tôi cùng cô Liên, cô Phụng, anh Nam và em Khoa. Nghe có mấy anh em Vovinam-Việt Võ Đạo lên, thầy Bạch Vân đã tiếp đón nồng hậu và thân tình. Thầy đã kể lại những lần gặp gỡ võ sư Lê Sáng cũng như ý nguyện của Chưởng môn… Hơn nửa giờ uống trà và đàm đạo, tôi cảm nhận gần gũi và thân thiết thầy Bạch Vân hơn khi nhìn thấy trên vách treo một bức ảnh Chưởng môn Lê Sáng chụp cùng một số võ sư, mặc dù đã nhạt nhòa theo năm tháng.

Lưu niệm trên đỉnh Bao Quang cùng Thầy Bạch Vân

Lưu niệm trên đỉnh Bao Quang cùng Thầy Bạch Vân

Thầy Bạch Vân tên thật là Tạ Tường Vân, năm nay 84 tuổi, người làng Vạn Tượng, quê ngoại ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Gia tộc nội, ngoại của thầy đều thuộc dòng dõi quí tộc, giàu có. Thầy rời xa gia đình đi học “đạo Thiền” lúc còn nhỏ, đọc nhiều, hiểu rộng, sống đạm bạc và gần gũi thiên nhiên. Cũng như Chưởng môn Lê Sáng, thầy Bạch Vân (bút hiệu Liên Khương cùng nhiều bút hiệu khác) đã viết rất nhiều sách, có thể kể vài quyển: “Tiến trình chứng nghiệm trong thực tại của người Mây Trắng”, “Cái tuyệt đối của suối nguồn chân lý, “Thơ người Mây Trắng”, “Những hạt bụi hình thành thế giới”, v.v. Vốn là một thi sĩ “tâm linh”, thầy đã sáng tác trên 1.000 bài thơ, có nhiều bài thơ siêu thoát, hư hư, thực thực, như:

NGỘ ĐẠO
Đêm ngày chẳng có bóng người qua,
Gió thét vang rền động Phong La (*),
Đá tảng vạn cân lòng rỗng ruột,
Đêm tàn trăng lạnh một Tăng Già.
Thế gian phi thế nào cân lượng,
Đời Đạo xem ra đã nhạt nhòa,
Sinh tử như mây chiều ảo mộng,
Kinh hồn một chớp, ta nhìn ta.

Tôi cũng như một số đồng môn lên tận đỉnh Bao Quang gặp thầy Bạch Vân quả là một “duyên may” hay do thầy Chưởng môn của chúng ta dẫn dắt? Cá nhân tôi thì nghĩ như thế khi được thầy Bạch Vân tiếp tục dẫn lên ngôi nhà chót đỉnh để nhìn mây trời lồng lộng, ngắm nhìn non nước hữu tình, cùng nhau chụp vài bức ảnh… Bất chợt trời lại đổ mưa, chúng tôi cùng thầy Bạch Vân quay về chùa. Ngồi nghe thầy Bạch Vân đọc thơ và tâm tình rất nhiều về thầy Chưởng môn Lê Sáng qua 3 lần gặp gỡ và lần hẹn thứ 4 chưa thành, vì Chưởng môn đã vội đi xa. Thầy Bạch Vân rất quý trọng thầy Chưởng môn. Thầy đưa chúng tôi qua chính điện lễ Phật, đồng thời mong muốn có một bức ảnh thầy Chưởng môn đặt bên phải tượng Phật tổ, để ngày ngày có thể cùng nhau bầu bạn qua kinh kệ. Quả là “Tri kỷ, tri bỉ”…
Hơn nửa tháng sau, theo lời hứa, tôi đã chuyển đến thầy Bạch Vân bức ảnh bán thân Chưỡng môn Lê Sáng… Và thầy Bạch Vân cũng gởi cho tôi một bức thư chứa đựng nhiều tình cảm cùng ước nguyện của người đã khuất. Xin mời quý đồng môn cùng đọc và đến thăm CLB Núi Dinh khi có cơ hội.

Thay BV 1Thay BV 2Thay BV 3Thay BV 4

Ngày 22 tháng 01 năm 2015
Môn đồ NGUYỄN CHÁNH TỨ
———————————————————————————————————————
(*) Động Phong La: nơi thầy Bạch Vân ngồi thiền suốt 10 năm.

Thư thầy Bạch Vân được đánh máy lại để đọc cho dễ

Kính gửi Thầy Nguyễn Chánh Tứ

Thành viên Hội đồng Chưởng quản Môn phái Vovinam Việt Võ Đạo.
ĐT 0913 857 399

Cho đến nay tôi ở trên núi Dinh này cũng đã gần ba mươi năm 1985 -2014. Người đến núi này gần, xa đều có nhưng không nhiều, hình bóng lưu lại cũng hiếm hoi – duy có một hình người đậm nét, cứ mỗi khi nhìn đến tôi đều có cảm xúc như gặp lần đầu đó là Thầy Lê Sáng.

Thầy Lê Sáng là bậc Tôn sư, là Chưởng môn Vovinam Việt Võ Đạo – Tôi thì thấy như vị THẦY ĐẠO HẠNH, tam nghiệp của Thầy thật hoàn hảo (Thân, Khẩu, Ý) Lời nói và hành động của thầy luôn như nhất nên khiến mọi người mến phục.

Tôi gặp Thầy Lê Sáng khoảng năm lần – một lần ở đất bằng, hai lần trên núi và hai lần tôi viếng thăm Thầy ở đường Sư Vạn Hạnh. Tôi thấy Thầy rất gần gủi với ĐẠO nên tôi đưa Thầy mượn cuốn sách quý Bodhicaryavatara (Bồ tát hạnh của Santideva ) (Tịch Thiên – Si ba tha) Thầy mượn gần mấy tháng mới gởi lại tôi. Tôi hỏi Thầy đọc có dễ không? Thầy nói không dễ – nhưng tôi coi kỹ và Thầy nói tiếp – “ một lúc nào đó – sau này tôi cũng muốn gần thầy “ !

Tôi nói : Thầy muốn tỉnh lặng vĩnh hằng ở đỉnh núi, hay muốn nuôi dưỡng “khí thiêng của môn phái” Thầy vui vẻ nói : Cả hai.

Tôi nghĩ : Bậc Tôn Sư đáng kính của Vovinam nầy muốn một tổ đình lâu dài cho môn đệ, con cháu mai hậu chăng? Vì trước đó nhiều lần Thầy Lê Sáng đã nói : “sau này họ sẽ mua đất của thầy đấy”!

Gần hai năm mà nhà cất Vovinam ở chân núi không phát triển, Tôi đường đột nói với Thầy Lê Sáng : Nếu nhà đó thầy chưa cần thì tôi nói Phật tử mua lại, vì tôi cần một chỗ làm chủng ở phía dưới.

Thầy bật ra như một phản ứng : Không đâu, tôi thêm chớ không bớt ! Rồi thầy nói : Vovinam đến mấy chục nước, còn cần hơn nữa…(tôi còn nhớ thầy LS nói thêm với âm thanh rất nhẹ : Tôi làm việc gì cũng phải Hòa và Thuận trước.

Sau đó tôi không có cơ hội thăm thầy nữa cho đến khi thầy Lê Sáng mất. Tôi rất buồn, như không bao giờ còn gặp lại người tri âm. Một Bực Thầy Vĩ đại của làng Võ Việt Nam.

Ngoài nhân cách và đạo đức, Thầy Lê Sáng còn tiềm ẩn một phẩm- thuật THIỀN – VÕ, Thiện- chân, Cao- thượng.

Tôi thật không may đã không bao giờ nữa được cùng thầy uống một chung trà trên đỉnh núi Bao Quang nầy nữa!

Nay nhân có mấy đệ tử Vovinam đến đây; nhìn lên hình thầy, tôi thấy xúc động viết mấy dòng nầy. Có bao nhiêu Công đức và Tuệ giác, tôi xin hồi hướng thầy: nguyện Hương linh Bardo của thầy dạo chơi ở miền Liên hoa – đài thượng và Vovinam đem hình ảnh Việt Nam cùng tiếng gọi giống nòi hùng mạnh qua Võ Thuật Việt cùng núi sông thân yêu lan tràn khắp Năm Châu Thế giới.

Xin kính tặng bực Thầy Võ Đức trong làng Võ Việt Nam.

Núi Dinh Hội ..(không rõ chữ) huyện Tân Thành, tỉnh bà Rịa Vũng Tàu.
La1 Octobe, ngày 8/9 Giáp Ngọ 2014
(Ký tên )
Thầy Bạch Vân
Trên đỉnh Bao Quang.

Võ Việt Nam oai hùng sông núi
Màu áo xanh trong sắc lá da vàng
Hồn bất khuất Năm Châu đồng vọng mãi
Nhân phẩm người Lê Sáng mãi thênh thang.
B.V

NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 2014

NGVNTôi bước chân vào lớp tập Vovinam lúc 14 tuổi tại võ đường số 61 đường Vĩnh Viễn (Sài Gòn) khi môn võ này bắt đầu khôi phục năm 1964. Cùng lớp với tôi có các anh Ngô Kim Tuyền, Trần Tấn Vũ (Trần Vui)… Sau 4-5 tháng tập luyện cùng võ sư Trần Huy Phong, lớp tôi được Chưởng môn Lê Sáng trực tiếp giảng dạy…

Thời gian trôi nhanh quá! Mới đó mà đã 45 năm được gần Thầy Chưởng môn, được trực tiếp nghe những lời giảng huấn, luyện tập những đường quyền, ngọn cước… với Thầy, tuy cũng có lúc phải gián đoạn vì mưu sinh. Những năm gần đây, vào dịp Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, tôi cũng như nhiều môn sinh Vovinam khác đều đến ngôi nhà số 31 đường Sư Vạn Hạnh – nơi Thầy đã dành trọn đời mình cho môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo – để chúc thọ Thầy.

1. Chưởng môn Lê Sáng chào đời vào tháng 8 năm 1920 trong một ngôi nhà bên bờ hồ Trúc Bạch (Hà Nội). Theo cách tính tuổi truyền thống của người Việt, năm nay Thầy đã thượng thọ (90 tuổi). Năm 1940, Thầy theo tập Vovinam cùng Sáng tổ Nguyễn Lộc tại Trường Sư phạm Hà Nội. Từ duyên may đó, gần 70 năm qua, Thầy đã gắn chặt cuộc đời mình với biết bao thăng trầm của môn phái. Và trong quãng thời gian ấy, những cống hiến to lớn của Thầy cho môn phái khó lòng kể xiết.
Tất nhiên, sự phát triển của môn phái Vovinam là quá trình đóng góp công sức của biết bao thế hệ võ sư, HLV, môn sinh và đông đảo người hâm mộ. Công lao là của tập thể, của nhiều thế hệ, nhưng tài năng của cá nhân cũng tác động rất mạnh mẽ và đôi lúc mang tính quyết định. Khoảng giữa thập niên 1960, dù cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, nhưng song song với chỉ đạo phong trào, mỗi ngày trực tiếp huấn luyện hàng chục giờ cho nhiều đối tượng khác nhau; vậy mà biết bao đêm Thầy vẫn chong đèn viết sách để hệ thống lại những tư tưởng võ đạo của cố võ sư Sáng tổ Nguyễn Lộc. Đó là hệ thống tư tưởng hướng người môn sinh Vovinam đến một triết lý sống tốt đẹp: “Sống, giúp cho người khác sống và sống cho mọi người”. Theo triết lý sống này, người môn sinh Vovinam không chỉ rèn luyện, tổ chức cho bản thân mình một cuộc sống tốt đẹp mà còn có trách nhiệm giúp người khác sống tốt đẹp và sẵn sàng hy sinh những quyền lợi tinh thần hay vật chất để phục vụ lợi ích chung của môn phái, của xã hội… Bên cạnh đó, nếu không có Thầy dày công vun đắp thì làm sao hệ thống kỹ thuật của Vovinam tương đối hoàn chỉnh như ngày nay. Rồi trong thời gian từ cuối thập niên 1980 đến khoảng giữa thập niên 1990, dù đã ngoài tuổi “thất thập cổ lai hy”, Thầy vẫn tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh hệ thống kỹ thuật cho phù hợp với giai đoạn mới – giai đoạn Vovinam bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở nước ngoài sau cột mốc đặt nền tảng ban đầu trên đất Pháp năm 1973.
Thế nên, trong 2 bài viết về Vovinam trên báo Thanh Niên vào cuối tháng 7-2009 nhân Giải vô địch Vovinam thế giới lần 1 và vào đầu tháng 11-2009 nhân Asian Indoor Games lần thứ 3, tác giả Thanh Thảo đã nhận định rằng Vovinam là “môn võ học dạy về lòng xả kỷ”, “môn võ học có triết lý mở, nó không cố chấp nhưng luôn tự tin và biết tự giữ mình trong một thế giới đầy bất trắc và cám dỗ”, đó là “môn võ học hiện đại, biết thu hút và lan tỏa, hào sảng và nhân hậu đúng như tinh thần Việt, tính cách Việt” và “với Vovinam, người theo học nó, nhất là người Việt, còn biết tự sửa mình, vượt qua những cố chấp, nhỏ nhen, đố kỵ để sống tốt đẹp cho mình và cho đời”. Không chỉ thế, trong lòng tác giả Thanh Thảo còn “dấy lên những cảm xúc khó tả” khi nhìn môn sinh Vovinam thi triển kỹ thuật bởi nó “vừa mạnh mẽ, tinh tế lại vừa rất bay bướm”, “cái đẹp đi liền với sức mạnh”, bởi trong kỹ thuật Vovinam “còn có sự kết hợp rất kỳ lạ giữa vẻ đẹp dũng mãnh và vẻ đẹp giữa sự quyết liệt và đức khoan dung”. Năm trước, nhân đến dự Lễ kỷ niệm 70 thành lập môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo (1938-2008) tại CLB Văn hóa-TDTT Nguyễn Du (TPHCM), Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân cũng đã phát biểu: “Truyền thống 70 năm của Vovinam đến nay tuy chưa lâu nhưng đã chứa đựng trong đó những giá trị văn hóa Việt Nam, ý chí Việt Nam, tài đức của con người Việt Nam. Đó là yêu hòa bình nhưng không chịu khuất phục trước bất công; đó là sáng tạo thiết thực, biết vượt lên những khó khăn trong hoàn cảnh của mình; đó là lấy yếu thắng mạnh, lấy nhỏ thắng lớn, lấy tĩnh thắng động và như vậy góp phần tạo nên truyền thống con người Việt Nam”.

2. 90 tuổi, tuy sức khỏe đã giảm sút nhất định theo quy luật thời gian nhưng Thầy vẫn sáng suốt, minh mẫn, lạc quan và sống an nhiên tự tại, khiêm nhường, giản dị. Không vợ con, chẳng có tài sản riêng tư, nhiều năm rồi Thầy vẫn ngủ trên chiếc ghế mây. Những năm gần đây, mỗi lần đến thăm Thầy, trò chuyện cùng Thầy, tôi lại học thêm đôi điều sâu sắc về quan niệm, cách hành xử… trong cuộc sống đời thường. Ngồi nghe Thầy say sưa bình luận về những nhân vật trong Tam Quốc, tôi mới ngộ ra vì sao Quan Công lại có ảnh hưởng sâu rộng và được dân gian Trung Quốc, Việt Nam thờ cúng, trong lúc Khổng Minh Gia Cát Lượng chỉ được người dân nơi quê mình thờ phụng. Đôi lúc tâm tình cùng Thầy một vài việc còn băn khoăn; bằng trí tuệ và những trải nghiệm trong cuộc sống, Thầy luôn sẵn lòng gợi mở cho tôi một vài giải pháp “thấu tình đạt lý”…
Không ít lần Thầy khuyên các môn sinh Vovinam phải đoàn kết, nhất là trong hàng ngũ các võ sư cao cấp hiện nay. Thầy nói: “Các con có thể tranh luận hết lời nhưng sau đó thì nên làm việc hết lòng. Ngày trước, thầy Trần Huy Phong, Nguyễn Văn Thư, Mạnh Hoàng, Phan Quỳnh, Ngô Hữu Liễn… vẫn thường tranh luận nhau rất sôi nổi, thậm chí gay gắt. Có lần mấy thầy ấy còn mời thầy về nhà nghỉ để khỏi bận tâm. Nhưng điều đáng quý là sau những cuộc tranh luận và đi đến thống nhất đó thì tất cả đều dốc lòng, dốc sức chăm lo công việc chung, chứ không hiềm khích cá nhân… Nhờ truyền thống này mà Vovinam mới vượt qua những thách thức trong giai đoạn khôi phục năm 1964”.
Khoảng đầu thập niên 1990, Thầy còn nêu chủ trương “Thuận thiên, hòa nhân”. Thầy giảng giải rất sâu sắc về chủ trương này và tôi chỉ còn nhớ một vài ý chính. Thuận thiên là sống và hành xử hợp với các quy luật thiên nhiên và quy luật xã hội. Trời rét là một hiện tượng tự nhiên, chúng ta không thể nào né tránh mà phải thuận theo bằng cách mặc áo bông, hoặc đốt lò sưỡi. Đối với xã hội cũng thế. Mỗi quốc gia đều có pháp luật riêng; sống nơi nào chúng ta phải tuân thủ pháp luật nơi đó. Hệ tư tưởng, triết lý sống phương Đông và phương Tây cũng có nhiều dị biệt, không thể áp đặt buộc người phương Đông phải hiểu, phải sống như người phương Tây và ngược lại mà cần tìm cách dung hòa. Có thể nói, thuận thiên là hiểu thời thế, sống và hành xử hợp với thời thế. Ngay cả việc phát triển Vovinam cũng phải tuân thủ theo xu thế thời đại, pháp luật từng nước và thông tục quốc tế mới có thể đạt kết quả tốt đẹp. “Hòa nhân” là biết sống, sống cho người khác, hành xử khéo léo, hợp với lòng người, từ đó mới hòa thuận với mọi người. Hòa thuận với mọi người sẽ tạo được bầu không khí vui vẻ, cảm thông và giúp đỡ lẫn nhau. Điều này có lợi cho cuộc sống cá nhân, gia đình và cả sự phát triển của môn phái. Mặt khác, nếu không hòa hợp, thuận thảo với mọi người thì khó tạo được sức mạnh tổng hợp để làm việc lớn. Muốn sống hòa thuận với mọi người, cần biết tự kiềm chế tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, tôn trọng người khác và đặt mình vào hoàn cảnh người khác mà hành xử sao cho đảm bảo lợi ích chung của xã hội và của môn phái.

3. 16 giờ 30 ngày 18-11-2009, buổi họp mặt chúc mừng Thầy thượng thọ đã diễn ra trong không khí ấm cúng tại Tổ đường Vovinam-Việt Võ Đạo với sự hiện diện của hơn 100 võ sư, HLV đến từ phong trào các tỉnh, thành, ngành (TPHCM, Cần Thơ, An Giang, Quân đội…) và một số nước. Sau khi võ sư Võ Văn Tuấn (Văn phòng Môn phái) đọc lời chúc thọ, võ sư Nguyễn Văn Chiếu (đại diện Liên đoàn Vovinam thế giới) và võ sư Võ Danh Hải (đại diện Liên đoàn Vovinam Việt Nam) cùng nhiều võ sư, HLV khác đã trân trọng tặng Thầy những bó hoa tươi thắm… Những ngày trước, Văn phòng Môn phái, Tổ đường cũng đã nhận được rất nhiều thư, điện hoa mừng thọ Thầy từ phong trào Vovinam khắp nơi trên thế giới gửi về… Hôm đó, Thầy rất vui. Nhìn Thầy cười, nói rung rinh chòm râu bạc, chúng tôi không khỏi bồi hồi xúc động. Và để đền đáp sự hy sinh to lớn, “dấn thân hiến ích” của Thầy cho sự nghiệp phát triển Vovinam-Việt Võ Đạo, tôi lại tự hỏi: “Chúng con đã thực hiện những lời dạy dỗ của Thầy đến đâu? Chúng con đã làm được gì để xiển dương môn phái hay vẫn loay hoay trong cái vòng lẩn quẩn “bon chen, tị hiềm vì tiền tài, danh lợi, quyền lực cá nhân”?
Cùng nhau nhấp chút rượu vang, ăn miếng bánh kem…, dù không ai bảo ai nhưng những môn đồ Vovinam có mặt ngày hôm đó đều mong muốn sẽ còn được nhiều lần dự lễ mừng thọ Thầy…
Tôi không có ý định viết tiểu sử Thầy và cũng không đủ năng lực thực hiện điều đó. Năm nay, 2009, khi Thầy bước sang tuổi 90, tôi chỉ xin ghi lại đôi điều về Thầy, như là một đóa hoa giản dị dâng lên Thầy thay lời mừng thọ…
THIỆN TÂM
(20-11-2009)

Mừng thọ Chưởng môn Lê Sáng (18-11-2009)

Mừng thọ Chưởng môn Lê Sáng (18-11-2009)

Chưởng môn Lê Sáng cắt bánh mừng thượng thọ (18-11-2009)

Chưởng môn Lê Sáng cắt bánh mừng thượng thọ (18-11-2009)

My Teacher Reached 90 Years Of Age

(Translation to English by Trinh Do)

20-11-2009

At the age of 14, I stepped into a class Vovinam martial arts on 61 Vĩnh Viễn street (Saigon) when this martial arts discipline restarted its movement in 1964. I attended the same class with master Ngô Kim Tuyền, master Trần Tấn Vũ (aslo known as Trần Vui)… After 4-5 months of practice with master Trần Huy Phong, my class has the privilege of being instructed directly by Grand Master Lê Sáng …

Time flew by too fast! I got to know and stayed near our Grand Master for 45 years already. During this time, I directly received his words of wisdom, and instructions on every kick and punch. There were also periods of interuption as I had to find ways to make a living . In recent years, on every Vietnam Teachers Day on November 20, I and many other Vovinam disciples came to the Grandmaster’s residence at 31 Su Van Hanh street, where he has dedicated most of his entire life to Vovinam-Việt Võ Đạo, to offer our best wishes.

1. Grand Master Lê Sáng was born in August 1920 in a house by the shore of Trúc Bạch Lake (Hà Nội). By the Vietnamese traditional way of calculating age (at beginning of a lunar year, everyone’s age increments by 1) this year he has reached 90 years of age. In 1940, my Master first trained in Vovinam martial arts with the founding Grand Master Nguyễn Lộc at Hanoi’s School of Pedagogy club. From that auspicious day, for nearly 70 years my Master’s life was closely tied to the ups and downs of this discipline. During this period, his great devotion and contribution to the discipline has been so significant that it is beyond my ability to describe.

Of course, the development of Vovinam is a joint effort with contributions from generations of martial arts masters, instructors, disciples, and a large base of followers. Although its tremendous growth is due to the collective effort by many members of this organization, the talent and devotion of a few no doubt has had great impacts and produced decisive outcomes. In the mid 1960’s, although his living conditions at the time were spartan and limited, the Grandmaster daily trained many disciples, directed the operations of Vovinam, and spent countless hours writing books to organize and systematize the martial arts philosophy of the founding Grand Master Nguyễn Lộc. This philosophy directs Vovinam disciples to uphold a high ideal: “Live for yourself, helping others to live, and living for other people.” According to this philosophy of life, a Vovinam disciple not only train and try to attain a decent quality of life for him/herself, but also has the responsibility to help others to live well and be prepared to sacrifice materially or spiritually to serve the common interests of the Vovinam discipline and the society at large. In addition, if it was not for his relentless research and innovative effort, how would the technical systems of Vovinam becomes relatively complete as we know it today? During the late 1980s to the mid-1990s, while already in his advanced age of 70, my Master continued to research, enhance and improve the technical system to adapt to the modern age. In this period, Vovinam began a strong expansion overseas, starting with a foundation originally set in France in 1973.

In two newspaper articles about Vovinam on Thanh Niên magazine published at the end of July-2009 on the first Vovinam World Championship and another one on November-2009 at the 3rd Asian Indoor Games, the author Thanh Thảo observed that Vovinam is “a martial art that teaches benevolence and service”. He also noted that Vovinam philosophy “is open-minded, yet promoting self confidence and self control in a world full of uncertainties and temptations” As such, it is “a modern martial art that knows how to attract and to grow according to the humane and chivalrous Việt spirit.” Thanh Thao further observed that “Vovinam disciples, particularly Vietnamese, know how to improve themselves, to overcome prejudice, pettiness, and disagreement to live peacefully and contribute to society”. Thanh Thảo also felt “strong, difficult to described emotions” when seeing Vovinam disciples performing techniques that are “powerful, sophisticated, and yet very elegant”. (Trinh’s note: I would cut out most of the description by Thanh Thao here since it doesn’t make sense in English) Last year, on the occasion of the 70th anniversary of establishment of Vovinam-Việt Võ Đạo (1938-2008) at the Culture and Sport Club of Nguyen Du (HCM City), Deputy Prime Minister Nguyễn Thiện Nhân also said: “The 70 year tradition of Vovinam is not long but it already embodied the cultural values of Vietnam, Vietnam’s will power, talent and virtue of the people of Vietnam. We are peace loving, but indomitable in the face of oppression and injustices. We are realistic and innovative, able to overcome our own difficulties and disadvantages. We know how to beat stronger opponents despite our weaknesses and to overcome bigger enemies despite our small size. These values contribute to the development of the tradition of the Vietnamese people”.

2. At 90 years old, my Master is still very sharp, optimistic, stoic, humble. He lives simply and without worry though his health has declined in accordance to the natural laws. He is unmarried and does not own any private property. For many years my Master still sleeps on a rattan chair. In recent years, in each visit to my Master, I learned and gained more insights about his view points, behaviors and conducts that I can apply in daily lives. Sitting there and listening intensely to his comments about the characters in the saga of Three Kingdoms, I realize that why Guan Yu has profoundly influenced the common people of China and why many Vietnamese also worshiped him, while Zhuge Liang is only worshiped by the peasants of his birth place. Sometimes I discussed a few matter of concern with Master. With his wisdom and life experience, my Master always was willing to suggest sensible solutions that has “compassion and logics”…

Many times my Master urged Vovinam disciples to be united, especially among the high-ranking masters. He often said: “you can argue freely until words run out but afterward, you should work together wholeheartedly. In the old days, Masters Trần Huy Phong, Nguyễn Văn Thư, Mạnh Hoàng, Phan Quỳnh, Ngô Hữu Liễn… often had lively debate that turned into harsh arguments. A few times, the masters asked me to go to rest so their argument won’t disturb me. The commendable thing is that after the debate and having reached consensus, they were all unified in taking care of the common interests, rather than keeping personal grudges… Because of this tradition, Vovinam was able to overcome many challenges during the recovery period in 1964.

In the early 1990s, my Master proposed the approach of “Thuận thiên, hòa nhân” (which literally means ”Living in accordance with the will of Heaven and in harmony with mankind”. He explained in details this profound philosophy but I could only remember a few main ideas. “Living in accordance with the will of Heaven” is to live and act in accordance to the laws of nature and the laws of society. For example, if the weather turns cold, we cannot avoid it by doing nothing, but must adapt by wearing warm clothes or heating our home. Similarly each country has its own laws. We must comply with the law in the country where we live. Westerners and Oriental people have different philosophies and mind set. We cannot force Orientals to live and think like Westerners and vice versa. Instead, we ought to seek common ground. Said another way, “Living in accordance to the will of Heaven” is to understand the time and place one is living in and use that understanding to adapt accordingly. In growing Vovinam abroad, we must likewise adapt to the laws of each country, international standards, and the trends of the time in order to achieve success.

“Living in harmony with mankind” is knowing how to live for oneself, living for others, conducting oneself properly, and gaining other people’s respect and appreciation. By doing all these, we can achieve harmony with other people and create a happy environment where understanding, compasssion, and mutual assistance may flourish. In addition, living according to this philosophy is beneficial for our own personal life, family and the development of our discipline. On the other hand, if we cannot achieve harmony and agreement with others, it would be difficult to harness the synergy necessary to achieve our goals. To live in harmony with all people, we must respect others, know how to keep our own ambition and desire in check, be able to put ourself in other people’s situations, and be willing to take action that protect the common interests of society and of the discipline.

3. At 4:30 pm on November 18-2009, a warm and cordial gathering took place at the Altar Hall of Vovinam-Việt Võ Đạo. More than 100 martial arts masters and instructors from many provinces, cities, and governmental departments (HCM City, Cần Thơ, An Giang, Military…) came to congratulate my Master on his birthday. Also present was a number of disciples from other countries. After master Võ Văn Tuấn (representing the Central office of Vovinam) read out the birthday wishes, master Nguyễn Văn Chiếu (representing the Vovinam-Việt Võ Đạo World Federation), master Võ Danh Hải (representing Vietnam Vovinam Federation), and many other masters and instructors came to offer him fresh flower bouquets… A few days before, the Central Office and Altar Hall office have also received many letters, e-flower wishing him longevity from Vovinam disciples around the world… On that day, my Master was very pleased. Seing him smiling and chatting away lively in his silver beard, we were very emotional. To repay my Master for his great “life time dedication” and sacrifice for the development of Vovinam-Việt Võ Đạo, I asked myself: “how much have we carried out our Master’s teaching? What have we done to spread the teaching or or are we still going around in a frustrating circle of “competition, jealousy, and pursuing our own profit and personal gain?”

Everyone toasted each other a glass of wine or enjoyed an ice cream cake at the celebration of my Master’s birthday. Though no one said it out loud, all Vovinam disciples present that day shared the same desire, to be able to wish him many more birthdays to come…

I do not intend to write my Master’s biography and am not capable of doing that. This year, 2009, when my Master turns 90, I just want to write a few thoughts about my Master. It is a simple flower to present to my Master instead of a birthday wish…

(www.vovinamvvd.com)

Mein Meister wird 90 Jahre alt

(Translation to Deutsch by Kevin Trung Cao)

20-11-2009

Ich trat einer Vovinam- Klasse im Alter von 14 Jahre in Vinh Vien Avenue 61 in Saigon bei, als diese Kampfkunst ihre Bewegung 1964 wiederaufnahm. Ich besuchte die gleiche Klasse wie Meister Ngo Kim Tuyen, Meister Tran Tan Vu (auch bekannt als Tran Vui) … Nach 4-5 Monaten des Trainings unter Meister Tran Huy Phong hatte meine Klasse das Privileg Anweisungen und Unterrichte direkt von Großmeister Le Sang zu erhalten.

Die Zeit vergeht zu schnell! Ich stehe neben unseren Großmeister nun für 45 Jahre, jedes Wort hörend welches er uns lehrt, jeden Tritt und Schlag welchen er korrigiert … Aber es gab auch Abschnitte der Unterbrechung, hervorgerufen durch die Lebensumstände. In den heutigen Jahren kommen, sowie ich auch viele andere Vovinam-Schüler, jeden 20. November zu seinen Wohnort in der Su Van Hanh Avenue 31, wo unser Meister einen Großteil seines Lebens Vovinam – Việt Võ Đạo gewidmet hat, um ihn unsere besten Wünsche zu übermitteln.

1. Lehrmeister Lê Sáng wurde im August des Jahres 1920 in einen Haus am Ufer des Truc Bach Lake (Ha Noi) geboren. Nach der vietnamesischen traditionellen Art das Alter zu berechnen (zum Beginn eines Mondjahres jedermanns Alter erweitert sich um eins), erreichte er dieses Jahr das Alter von 90 Jahren. Im Jahr 1940 trainierte unser Meister das erste Mal die Kampfkunst Vovinam unter dem Gründermeister Nguyễn Lộc an der Schule für Pädagogik in Hanoi. Von diesem glückverheißenden Tag an waren nahezu 70 Jahre des Lebens unseres Meisters eng verbunden mit den Höhen und Tiefen Vovinams. Während dieses Zeitraums war seine große Zuneigung und sein Beitrag zu der Kampfkunst so bedeutend, dass es jenseits meiner Fähigkeiten es zu beschreiben liegt.

Selbstverständlich ist die Entwicklung von Vovinam ein gemeinsamer Verdienst mit Beiträgen von mehreren Generationen von Kampfkunstmeistern, Trainern, Schülern und einer großen Anhängerschaft. Obwohl es der zusammengefasste Verdienst von vielen Mitgliedern der Organisation ist, so ist es jedoch sein individuelles Talent, welches große Auswirkungen hatte und das endgültige Ergebnis produziert hatte. Um 1960 herum, obwohl die Lebensumstände zu dieser Zeit begrenzt waren und er täglich den Arbeitsablauf der Bewegung führte, spendete er selbst viele Stunden, um das Training für viele verschiedene Schüler bereitzustellen – und noch viel mehr, jede Nacht blieb das Licht im Zimmer unseres Meisters erleuchtet, als er die Gedanken und Ideale des Gründermeisters Nguyễn Lộc systematisierte und erläuterte, um sie in Büchern niederzuschreiben. Dieses System von Gedanken leitet Vovinam-Schüler zu einer hervorragenden Lebensphilosophie: „Lebe für dich selbst, helfe anderen zu leben und lebe für andere Menschen.“ Entsprechend dieser Lebensphilosophie soll ein Schüler Vovinams nicht nur trainieren und respektable Lebenseigenschaften für sich aufrecht erhalten, sondern auch die Verantwortung annehmen, anderen zu helfen, ein annehmbares Leben zu führen und sich vorbereiten die Schüler materiell zufrieden zu stellen und geistig ihren gemeinsamen Interessen und denen der Gesellschaft im Ganzen zu dienen. Außerdem, wenn es nicht sein unermüdlicher Einsatz war, wie hätte das technische System von Vovinam dann so vollständig entwickelt werden können, in einer Form, wie wir es heute kennen? Während der späten 80er bis zur Mitte der 90er Jahre, als er bereits über sein „ that thap co lai hy“ Alter (70 Jahre zu überleben, ist – egal ob in der Vergangenheit oder der Zukunft – außerordentlich) hinaus war, fuhr unser Meister fort die Techniken von Vovinam weiter zu erforschen, zu erweitern und zu verbessern, um es der Moderne anzupassen – in einer Zeit, als Vovinam auch Übersee stark expandierte, nach dem geschichtlichen Meilenstein, als die Gründung ursprünglich 1973 in Frankreich begann.

Nach dieser Entwicklung beobachtete der Autor Thanh Thảo in zwei Zeitungsartikeln über Vovinam, veröffentlicht in der Thanh Nien Zeitschrift Ende Juli 2009 in einen Artikel, über die ersten Vovinam Weltmeisterschaften und in einen anderen im November 2009, anlässlich der dritten Asian Indoor Games, dass Vovinam „eine Kampfkunst ist, welche Nächstenliebe lehrt“, „eine offene Philosophie der Kampfkunst“, „sie ist nicht engstirnig, sondern stets immer darauf ausgerichtet Selbstvertrauen und eine hohe Rechtschaffenheit in einer Welt voller Ungewissheiten und Versuchungen zu fördern“, sie ist „eine moderne Kampfkunst, welche sich gänzlich ihrer Werte zur wählerischen Aufnahme und Verbreitung bewusst ist, stolz und menschenfreundlich, wie der vietnamesische Geist und der vietnamesische Charakter“ und „ mit Vovinam, diejenigen, die es erlernen, besonders die ernsthaften Schüler, lernen sich selbst zu verbessern, Vorurteile, Kleinlichkeit und Missverständnisse zu überwinden, um ein gutes Leben für sich und die Gesellschaft zu führen“. Nicht nur das, auch im Herzen des Autors Thanh Thảo „werden Gefühle wach, die schwierig zu beschreiben sind“, wenn er Vovinam-Schüler Techniken vorführen sieht, weil sie „kräftig, anspruchsvoll und zugleich sehr elegant sind“, „Kraft verbunden mit Herrlichkeit“, weil die Techniken Vovinams eine „sehr außerordentliche Kombination zwischen Schönheit der Kraft und der Schönheit der Entschiedenheit und der Toleranz“ aufweisen.

Letztes Jahr zur Zeremonie des 70. Geburtstages der Gründung von Vovinam – Việt Võ Đạo (1938 – 2008) im Kultur und Sportverein in Nguyen Du (Ho-Chi-Minh-Stadt), Deputy Prime Minister Nguyen Thien Nhan sagte auch: „Obwohl 70 Jahre Tradition von Vovinam nicht lange sind, so enthält sie doch die kulturellen Werte von Vietnam, Vietnams Willensstärke, Talent und Tugend der vietnamesischen Bevölkerung. Es ist die Liebe zum Frieden aber niemals sich der Ungerechtigkeit unterzuordnen; es ist die zweckmäßige Schöpfungskraft, Schwierigkeiten zu überwinden, welche im eigenen Umkreis auftauchen; es ist das Prinzip „schwach besiegt stark“, „klein besiegt groß“, der Vorzug der Ausgeglichenheit gegenüber der Überaktivität und deshalb gehört es zu den Traditionen der Bevölkerung von Vietnam.“

2. Mit dem Alter von 90 Jahren, verschlechterte sich seine Gesundheit entsprechend dem Gesetz der Zeit, aber unser Meister ist immer noch sehr scharfsinnig, intelligent, optimistisch, stoisch, bescheiden und einfach. Er blieb unverheiratet ohne Kinder, keinen privaten Eigentum und wie schon seit vielen Jahren schläft unser Meister immer noch auf einen mit Rattan geflochtenen Stuhl. In den letzten Jahren, bei jedem Besuch unseres Meisters, um mich mit ihm zu unterhalten, lerne ich tiefergehendes Wissen kennen über Sichtweisen, Verhalten und Handlungsweisen…welches ich in meinen täglichen Leben nutzen kann. Bei ihm sitzend und seinen Erläuterungen über die Charaktere in der Legende über die drei Königreiche aufmerksam folgend, begreife ich, warum gerade Kwan Kong das chinesische Volk zutiefst beeinflusst hat und auch die Vietnamesen verehren ihn, während Zhuge Liang Kong Ming nur verehrt wird durch die Bauern seines Geburtsortes. Manchmal diskutiere ich einige besorgniserregende Angelegenheiten mit unseren Meister, aber mit seiner Weisheit und Lebenserfahrung ist unser Meister immer bereit und empfiehlt Lösungen, welche barmherzig und logisch sind…

Sehr oft hat unser Lehrmeister alle Vovinam Schüler zur Einigkeit aufgerufen, besonders in den Reihen der hochrangigen Meister. Der Lehrmeister sagte: „Ihr könnt euch solange streiten bis ihr sprachlos seid, aber dann solltet ihr mit eurem ganzen Herzen zusammenarbeiten.” In früherer Zeit gab es reg hafte, teils heftige Debatten unter den Meistern Trần Huy Phong, Nguyễn Văn Thư, Mạnh Hoàng, Phan Quỳnh und Ngô Hữu Liễn. Einige Male baten die Meister den Lehrmeister höflich nach Hause zu gehen, damit ihr Streitgespräch ihn nicht stört. Wie dem auch sei, erwähnenswert ist, dass im Endeffekt alle zusammenarbeiteten und ihre persönlichen Ungereimtheiten unter einander ablegten. Aus dieser Tradition heraus überwand Vovinam alle Herausforderungen, die die Periode des Wiederaufbaus 1964 mit sich brachte.

In den frühen 90er Jahren setzte sich der Lehrmeister verstärkt für den Grundsatz „Thuận Thiên, Hòa Nhân” oder „Dem Himmel folgen, mit den Mitmenschen in Harmonie leben” ein. Unser Lehrmeister erläuterte diesen Grundsatz, aber ich kann mich nur an ein paar Hauptpunkte erinnern. „Im Einklang zu leben” heißt, nach den Gesetzten der Natur und Gesellschaft zu leben und zu handeln. Wenn das Klima kühl wird können wir es nicht vermeiden uns wärmer anzuziehen oder ein Feuer zu entzünden. Das gleiche gilt für die Gesellschaft, jedes Land hat seine eigenen Gesetze und wo immer wir auch leben, wir müssen uns der jeweiligen Gesetzeslage anpassen. In den Ideologien und Philosophien des Ostens und des Westens gibt es Unterschiede, und wir sollten beide nicht dazu zwingen die Vorstellungen des jeweils anderen zu verstehen und danach zu leben, aber wir müssen eine gemeinsame Basis finden. Man kann sagen „Dem Himmel folgen” meint, die wichtigen Punkte der Zeit und des Lebens zu verstehen und sich dem entsprechend angemessen zu verhalten. Sogar bei der Weiterentwicklung von Vovinam müssen wir mit der Zeit gehen, Trends aufgreifen, die Gesetze der jeweiligen Länder beachten und die internationale Entwicklung kennen, um gute Resultate zu erzielen. „Mit den Mitmenschen in Harmonie leben” heißt zu wissen, wie man selbst leben möchte, für andere zu leben und weise zu handeln, wenn es um die Anliegen anderer geht. So erreicht man Harmonie mit jedem. Ein harmonisches Zusammenleben schafft eine sympathische Atmosphäre, in der es Spaß macht zu leben und in der sich alle gegenseitig unterstützen. Dies kommt dem persönlichen Leben und der Familie zu gute, genauso wie der Entwicklung unserer Kampfkunst.

Andererseits, wenn Harmonie und Einklang nicht erreicht werden, wäre es schwer den notwendigen Zusammenhalt herzustellen, um unsere wichtigsten Ziele zu erreichen. Um in Harmonie mit unseren Mitmenschen zu leben sollten wir die eigenen Interessen zurückstellen, andere respektieren und uns in Ihre Lage versetzen, um die gemeinsamen Interessen der Gesellschaft voranzubringen und so auch unsere Kampfkunst.

3. Um 16:30 am 18. November 2009, fand ein herzliches Treffen in der Altarhalle des Vovinam Việt Võ Đạo statt, um unserem Lehrmeister zu gratulieren. Zu diesem Anlass waren mehr als hundert Meister und Trainer aus verschiedenen Provinzen, Städten, Berufsfeldern und aus Übersee gekommen (HCM City, Cần Thơ, An Giang, Militär…).

Nachdem Meister Võ Văn Tuấn (Zentrale des VVNVVD) die besten Glückwünsche verlesen hatte, wurden ihm von Meister Nguyễn Văn Chiếu (Vertreter der VVNVVD World Fedewration) und Meister Võ Danh Hải (Vertreter der VVNVVD Föderation Vietnam) und vielen anderen Meister und Trainern frische Blumensträuße überreicht.

In den Tagen zuvor erhielten die Zentrale und das Büro der Altarhalle unzählige Briefe und Emails mit Glückwünschen von Vovinamschülern aus aller Welt. An diesem Tag war unser Lehrmeister sehr zufrieden. Es berührte uns alle sehr ihn so zu sehen, wie er lächelte und lebhaft durch seinen silbernen Bart plauderte. Ich fragte mich wie wir unserem Lehrmeister, der sich sein Leben lang für Vovinam und dessen Entwicklung engagiert und aufgeopfert hat etwas zurückgeben können. “Wie gut haben wir die Lehren unseres Meisters verbreitet? Was haben wir getan um die Lehren zu verbreiten, oder bewegen wir uns immernoch in einem Teufelskreis aus Wettbewerb und Abscheu, um uns selbst zu bereichern?”
Als wir mit einem Glas Wein anstießen und Sahnekuchen mit unserem Lehrmeister aßen, wünschten wir uns alle, auch wenn es niemand laut aussprach, daß er noch viele Geburtstage feiern wird.
Es ist nicht meine Absicht die Biographie unseres Lehrmeisters zu schreiben, dazu bin ich nicht in der Lage. Aber in diesem Jahr, 2009, wird unser Lehrmeister 90 Jahre alt und ich möchte ein paar Gedanken über unseren Lehrmeister zu Papier bringen, eine symbolische Blume an Stelle eines Geburtstagsgrußes.

(www.vovinamvvd.com)

Năm 1968, ngôi nhà số 31 Sư Vạn Hạnh chỉ có tầng trệt và lầu 1. Năm 1992, ngôi nhà được cơi lên thêm 1 tầng nữa và sân thượng. Khoảng vài năm sau, trên lầu thượng mới xây phòng thờ Sáng tổ cùng 1 căn phòng nhỏ để Chưởng môn Lê Sáng làm việc và nghỉ ngơi cho yên tĩnh. Công trình này do công ty xây dựng của võ sư Kiều Công Lang đảm nhận.
Lên đến lầu thượng (lầu 3) sẽ gặp ngay phòng thờ Sáng tổ. Đi dọc theo hành lang, qua khỏi phòng thờ Sáng tổ sẽ đến phòng của Thầy. Phòng không rộng lắm, mái tole có đóng trần, diện tích 4,2mx3,5m và nhà vệ sinh 1mx2,4m. Lúc đầu, phòng trang bị quạt máy và đến năm 2001 mới gắn thêm máy điều hòa không khí.
Phòng khá thông thoáng với 1 cửa ra vào, 1 cửa sổ song song với đường Sư Vạn Hạnh và 1 cửa sổ song song với đường Nguyễn Chí Thanh). Bước vào phòng, bên phải là bàn thờ bố mẹ Thầy. Bên trái kê một chiếc ghế nằm bằng gỗ để Thầy nằm ngủ, nghỉ (mặt hướng ra cửa sổ đường Nguyễn Chí Thanh). Một số tài liệu, sách, báo thường dùng, bút mực, bình trà… đặt trên chiếc bàn hình chữ nhật bên tay trái (dọc theo cửa sổ đường Sư Vạn Hạnh), kế bên là một chiếc ghế nhỏ để khách ngồi tựa lưng vào tường; trước mặt là chiếc tivi, đầu máy và ngay dưới chân Thầy là chiếc ghế gác chân. Chung quanh tường treo khá nhiều hình ảnh và 1 kệ sách (chưa kể những tủ sách đặt ở phòng thờ Sáng tổ)… Thầy đọc rất nhiều loại sách khác nhau, từ triết học, tôn giáo, lịch sử, địa lý… cho đến những bộ tiểu thuyết kinh điển Á, Âu.
Thầy rất quý sách. Trong bài thơ Hồn sách, Thầy mở đầu bằng mấy câu:

Tinh hoa trời đất tụ vào đây,
Tuy mỏng mà mang ý nghĩa dầy,
Bút dẫu vô tri, hồn làm chủ,
Người dù xa vắng, chữ thay thầy…

Trong một lần trò chuyện ở Tổ đường, Thầy kể lại: “Từ Hà Nội vào Sài Gòn, thầy có mang theo một số sách quý. Sau này, thầy cất những sách đó cùng một số tài liệu của ông Sáng tổ trong một chiếc rương. Xuân Mậu Thân (1968), mẹ thầy sợ cháy nhà nên mang gửi vào một nhà người quen ở trong xóm. Chẳng may, ngôi nhà ấy bị cháy, còn nhà thầy thuê ở đường Minh Mạng (nay là đường Ngô Gia Tự) thì vẫn không hề hấn gì. Mất rương sách đó, thầy tiếc lắm!…”. Ngày 24-10-1993, Thầy đã ký tặng tôi bộ Chu dịch (2 quyển) của cụ Sào Nam Phan Bội Châu do Nhà sách Khai Trí ấn hành năm 1969. Bộ sách này đang được tôi lưu giữ trong tủ sách nhà mình như một gia sản quý hiếm…
Nơi căn phòng nhỏ hẹp đó, trong khoảng 15 năm nay, Thầy đọc sách, suy tư, cập nhật nhiều tài liệu lý thuyết võ đạo, viết hồi ký, làm thơ… Sáng sớm hoặc những lúc cần thư giãn, Thầy ra băng ghế đá phía trước phòng thờ Sáng tổ ngồi nghỉ ngơi hoặc đọc báo. Ngoài gian tiếp khách, cũng tại băng ghế đá này, đôi khi Thầy cũng tiếp thân hữu và học trò đến thăm. Những chậu kiểng tốt tươi nhờ một tay Thầy chăm bón mỗi ngày. Thỉnh thoảng, Thầy cũng xuống dưới nhà để đi mua một vài vật dụng hoặc đi bộ quanh công viên Hòa Bình gần Tổ đường.
Thầy cũng rất yêu hoa và cây cảnh. Khoảng nửa tháng trước khi nhập viện lần cuối, Thầy bảo mua thêm cây cảnh và Nguyễn Tấn Trung đã mang đến hơn một chực chậu kiểng dừa, bông giấy, bông trang… Tấn Trung bùi ngùi kể lại: “Hôm đó, ông vui lắm! Cùng với tôi chăm bón các chậu kiểng vừa mang đến, ông còn nói: “Sắp xếp, trang trí cho đẹp đi con, ông có ra đi cũng vui lòng…”.
Tuy không gian yên tĩnh, nhưng sống lặng lẽ nơi căn phòng trên lầu thượng, chắc Thầy từng không ít lần đối mặt với sự cô đơn và hiu quạnh của một người đàn ông đơn thân trong lúc tuổi già, nhất là những khi đêm khuya thanh vắng… Nhiều lúc cứ bị cuốn hút bởi công việc mưu sinh nên tôi không thường xuyên ghé thăm Thầy, chuyện vãn cùng Thầy… Âu đó cũng là điều đáng tiếc!
Sau khi “thẩm phân phúc mạc” ở bệnh viện một thời gian, Thầy có bảo thầy Sen dọn dẹp lại căn phòng này để sau này làm nơi thờ cúng bố mẹ Thầy và Thầy. Thầy nói: “Chỉ cần thờ cúng hết đời Sen thôi cũng được rồi!”. Dọn dẹp, sắp xếp xong, thầy Sen có nói thầy Khoa và tôi vào xem. Tuy nhiên, khi trở về, Thầy chuyển lại vào phòng này 1-2 cái tủ, một số hình ảnh và sắp xếp theo ý mình.
Thầy ra đi để lại những gì? “Của thế gian để lại/Phủi nhẹ bàn tay không” (Thanh thoát). Theo biên bản kiểm kê ngày 07-10: một ít tiền mặt, quà lưu niệm của tổ chức, cá nhân tặng Thầy, hình ảnh, 75 chậu kiểng… cùng vài kệ sách chứa hơn 500 quyển sách. Về vật dụng cá nhân cũng chẳng có gì quý giá: 2 chiếc ghế nằm (gỗ, mây), 1 vali quần áo cũ, 1 tivi, 1 đầu máy, 1 tủ lạnh, 1 bàn uống nước, 1 quạt máy, 1 máy điều hòa không khí… Nhưng những giá trị tinh thần Thầy lưu lại cho môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo thì thật lớn lao, khó mà cân đong, đo đếm. Đó là triển khai và làm phong phú, đa dạng hơn hệ thống triết lý võ đạo đậm tính nhân văn và hệ thống kỹ thuật Vovinam-Việt Võ Đạo của Sáng tổ Nguyễn Lộc truyền lại.
Tôi hy vọng, Hội đồng võ sư Chưởng quản sẽ bảo quản căn phòng này để làm “Phòng lưu niệm Chưởng môn”, hầu giúp các võ sư, HLV, môn sinh các nơi về viếng Tổ đường có thể tham quan nơi Thầy từng làm việc, nghỉ ngơi và hình dung một phần nào cuộc sống giản dị của Thầy lúc sinh tiền.

12-10-2010
Môn đồ Nguyễn Hồng Tâm

Bộ quần áo Thầy mặc vẫn còn đây!

Bộ quần áo Thầy mặc vẫn còn đây!

Bộ võ phục Thầy thường mặc trong dip lễ..

Bộ võ phục Thầy thường mặc trong dip lễ..

Một góc phòng nghỉ của Thầy

Một góc phòng nghỉ của Thầy

Những bức ảnh treo trên tường do Thầy chọn lựa

Những bức ảnh treo trên tường do Thầy chọn lựa

Những quyển sách Thầy vẫn thường đọc

Những quyển sách Thầy vẫn thường đọc

Bút tích của Chưởng môn

Bút tích của Chưởng môn

bia sach OK copy

Mới đó mà Chưởng môn Lê Sáng đi xa đã tròn 2 năm và lưu lại trong lòng các môn sinh Vovinam-Việt Võ Đạo biết bao niềm thương tiếc. Nhân Lễ tưởng niệm Thầy lần thứ 2 (20 tháng 8 âm lịch), venguonblog đăng lại bài viết của một môn đồ từng theo tập với Chưởng môn Lê Sáng tại võ đường Vĩnh Viễn từ năm 1964, thay nén hương lòng dâng lên anh linh người kế nghiệp xuất sắc của sáng tổ Nguyễn Lộc…

venguonblog    

Lễ giỗ Thầy, sáng ngày 05/10/2012 tại Tổ đường Vovinam-việt Võ Đạo
(ảnh CMH)

Lễ giỗ Thầy, sáng ngày 05/10/2012 tại Tổ đường Vovinam-việt Võ Đạo
(ảnh CMH)

Những tháng ngày khó quên

1. Trong 5 lần Thầy điều trị nội trú ở bệnh viện Nguyễn Trãi, Nguyễn Tri Phương và 115 (từ cuối tháng 1 đến cuối tháng 9-2010), nhiều võ sư, HLV, môn sinh, môn đồ Vovinam-Việt Võ Đạo đã luân phiên trực để chăm sóc Thầy theo phân công của Văn phòng Môn phái. Lúc đầu chỉ có 10 người thuộc nhóm giúp việc mà Thầy đã chọn khi còn khỏe mạnh là các võ sư Nguyễn Văn Chiếu, Nguyễn Văn Sen, Nguyễn Văn Vang, Trần Văn Mỹ, Nguyễn Chánh Tứ, Nguyễn Tôn Khoa, Võ Văn Tuấn, Trần Đa, Nguyễn Văn Hiệp và tôi. Mỗi phiên có 1-2 người trực khoảng 3 giờ. Sau này mới tăng cường thêm các võ sư Mai Văn Hiệp, Diệp Thanh Long, Trần Trung Sơn (trực đêm tháng 5 và 6), Lê Huy Hoàng, Lê Hữu Phẩm, Lê Văn Hùng, Võ Đình Hiếu, Lê Nguyễn Hùng Long, Lê Nguyễn Hùng Quân… Những tháng đầu, thỉnh thoảng thầy Tôn Khoa và cô Võ Thị Diễm Thúy (vợ thầy Sen) cũng tham gia trực đêm. Riêng bác sĩ Võ Quốc Trung thì lo liên hệ với bác sĩ điều trị để biết bệnh tình, sức khỏe của Thầy rồi trao đổi lại với chúng tôi.

Thật cảm động khi có những anh em không phải là môn sinh Vovinam nhưng vẫn tiếp tay cùng chúng tôi chăm sóc Thầy bằng tất cả tấm lòng quý mến như: anh Lê Minh Quyền (chồng của cựu môn sinh Nguyễn Ngọc Phước) và anh Nguyễn Tấn Trung. Anh Minh Quyền đã trực đêm tại bệnh viện khi Thầy nằm viện lần 1 và 2, còn anh Tấn Trung đã phụ với vợ chồng thầy Sen chăm lo việc ăn uống, vệ sinh từ lúc Thầy nằm viện lần đầu (cuối tháng 1-2010) đến lần cuối và cả những lúc về ở Tổ đường, như một người cháu ruột thịt.

Những ngày đó, tôi đã gặp nhiều võ sư, HLV, môn sinh Vovinam ở các tỉnh xa (Trần Tấn Vũ, Lư Quang Đức, Nguyễn Văn Lượm, Hoàng Tiến Đăng, Phan Minh Thanh, Phạm Đình Chương, Nguyễn Đắc Trình, Mã Thị Ngọc Liêng…) và nước ngoài (Nguyễn Thế Hùng, Diệp Khôi, Trang Phước Đức, Lương Thuận Vui, Tân Rousset…) chẳng quản ngại đường xa đến thăm Thầy… Trong thời gian thực tập tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương, em Nguyễn Thị Ngọc Hân (sinh viên Y khoa, con gái cô Nguyễn Thị Phụng) cũng thường xuyên đến thăm hỏi. Cứ cách vài hôm, vào khoảng 20 đến 21 giờ Việt Nam, tôi lại nhận được điện thoại của võ sư Diệp Khôi (Australia); thỉnh thoảng, võ sư Lê Thanh Liêm, Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Đông… cũng từ Mỹ gọi về thăm hỏi sức khỏe của Thầy…

Lo lắng cho bệnh tình của Thầy, võ sư Nguyễn Văn Nhàn (người xem Thầy như nghĩa phụ) từ Đức về TPHCM hồi đầu tháng 5-2010 để phụ chăm sóc Thầy và mới trở lại Đức hôm 10-10. Thông thường, khoảng 15 giờ 30, võ sư Nhàn đến bệnh viện (hoặc Tổ đường) ở với Thầy cho đến 20-21 giờ mới về. Trong dịp hè vừa qua, vợ con võ sư Nhàn cũng về nước để vấn an Thầy.

Có một hôm, 2 cô Dương Thị Hồng và Nguyễn Thị Huệ – môn sinh trước năm 1975 ở võ đường Hoa Lư – đến bệnh viện thăm Thầy. Gặp lúc trong người Thầy không được khỏe nên nói hơi to tiếng. Hai cô vội bước ra ngoài. Võ sư Nguyễn Tôn Khoa và tôi e ngại hai cô buồn, nhưng một trong hai cô đã vội nói: “Thầy nói to tiếng chứng tỏ Thầy còn khỏe, tụi em mừng, các anh đừng lo!”, nghe sao giống như một truyện nào đó trong Nhị thập tứ hiếu mà hồi nhỏ tôi từng được học.

2. Người xưa từng nói:

Dữ quân nhất dạ thoại

 Thắng độc thập niên thư

(tạm dịch: Được hầu chuyện 1 đêm, hơn 10 năm đọc sách)

So sánh thường khập khiễng, nhưng trong thời gian được phụ giúp các võ sư cấp cao chăm sóc cho Thầy, tôi mới học hỏi thêm nơi Thầy rất nhiều điều đồng thời nhận được nơi Thầy không ít lời khuyên bảo chân tình và sâu sắc.

Suốt hành trình từ trẻ đến khi già yếu, mục tiêu tối thượng và duy nhất của Thầy là phát triển môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo. Trong 8 tháng Thầy trị bệnh, tiền bạc các nơi gửi biếu, Thầy đều đưa cho võ sư Tôn Khoa để chuyển lại võ sư Trần Đa vào sổ quỹ rồi cất giữ. Dù vậy, Thầy vẫn không quên dặn dò: “Tuy số tiền đó gửi về chăm lo sức khỏe cho Thầy, nhưng môn phái có việc gì cần thì các con hội ý rồi chi dùng”. Và cũng vì tận tụy với môn phái nên Thầy phân minh giữa “chuyện riêng và chuyện chung”: “Những người tuy không gần Thầy, không chăm lo cho Thầy nhưng tận tâm, tận lực phát triển môn phái thì Thầy vẫn quý, còn ở gần Thầy mà chẳng làm được gì cho môn phái thì Thầy chỉ thương mà thôi”.

Nhắc đến những sư đệ đã quá vãng hoặc đang ở phương xa, Thầy luôn khẳng định công lao to lớn của quý thầy Trần Huy Phong, Nguyễn Văn Thư, Mạnh Hoàng… trong công cuộc phát triển môn phái. Thầy cũng không quên những đóng góp của các võ sư trong Ban chấp hành Môn phái trước đây. Thầy nói: “Nếu không có sự trợ lực của những thầy ấy thì Thầy cũng khó lòng mà phát triển môn phái mạnh mẽ trong giai đoạn 1964-1975…”. Hồi năm 2009, trước khi tổ chức Lễ tưởng niệm thầy Trần Huy Phong và thầy Mạnh Hoàng (Phùng Mạnh Chữ) tại Tổ đường, Thầy nhắc: “Sắp tới, các con cũng phải tổ chức Lễ tưởng niệm thầy Trịnh Ngọc Minh như thế nhé!”.

Nghe tin võ sư này, võ sư nọ sắp sửa nghỉ hưu, Thầy vừa cười vừa bảo (đại ý): “Làm việc cho Nhà nước thì có nghỉ hưu, nhưng làm việc cho môn phái thì không có nghỉ hưu! Sau này các con lớn tuổi thì trở thành “trưởng lão”, làm cố vấn cho đàn em. Mình phải sắp xếp cho có trên, có dưới đàng hoàng…”.

Thấy chúng tôi thường xuyên ra vào bệnh viện, Thầy nói: “Thầy bệnh, các con chăm sóc Thầy chừng 1-2 tháng thì còn thú vì được trả ân trả nghĩa cho Thầy, chứ kéo dài lâu quá thì các con cũng chán (cười)… Thế nên, Thầy chỉ mong mình sống khỏe chứ không mong sống thọ mà lại đau bệnh kéo dài thì chỉ làm các con vất vả mà lại chẳng có thời gian lo cho môn phái”.

Bản tính Thầy không muốn làm phiền mọi người. Dẫu đang bệnh, nhưng việc gì làm được thì tự tay Thầy làm lấy, từ chuyện vệ sinh cá nhân đến ăn uống và đi đứng. Ai làm giúp cho Thầy việc gì, Thầy không bao giờ quên ba chữ “Cám ơn con (chú, cô)”. Nhiều võ sư, môn sinh, thân hữu mang quà đến tận bệnh viện, Thầy nhận nhưng trong lòng không vui lắm vì “Thầy bệnh, ăn uống chẳng được bao nhiêu, đi đứng đã tốn kém, quà cáp lại càng tốn kém thêm”.

3. Những lúc trong người khỏe khoắn, Thầy thường nhắc chuyện Đông, chuyện Tây, chuyện xưa, chuyện nay rồi lại quay về chuyện môn phái và từ đó giúp tôi hiểu thêm nhiều điều trong cuộc sống. Chẳng hạn như Thầy nói (đại ý): “Muốn làm được việc lớn thì phải có tham vọng, không có tham vọng thì chẳng làm nên đại sự vì không chịu đựng nổi gian khổ. Tuy nhiên, tham vọng đó phải nhằm mục đích hiến ích cho môn phái, cho xã hội và nhân loại chứ tham vọng đó chỉ cốt thỏa mãn danh lợi cá nhân và gia đình thì hỏng”.

Thầy cũng khuyên tôi nên nhũn nhặn và đừng bao giờ tự cho mình là đúng, Thầy nhấn mạnh: “Mình đúng thì người khác sai à! Muốn làm việc cho môn phái thì con cần khéo léo, nhường nhịn, hòa thuận với anh em”. Lời khuyên này, ai cũng biết, ai cũng hiểu, nhưng khi thực hiện thì chẳng dễ dàng gì! Ngay từ lúc chưa lâm bệnh, Thầy vẫn thường nhắc anh em nên làm việc trên tinh thần dân chủ: “Việc gì mà đa số các con trong nhóm đã bàn và thống nhất thì Thầy đồng ý, nhỡ có sai thì cùng nhau sửa chữa chứ Thầy không phiền trách”.

Thầy vào đời sớm, nhưng với ý chí, nghị lực mạnh mẽ cùng tinh thần kiên trì tự học, tự rèn nên kiến thức của Thầy rất sâu rộng. Dù vậy, bản tính Thầy vẫn rất khiêm tốn. Khoảng năm 1998, tôi xin phép viết về cuộc đời Thầy, Thầy bảo: “Đừng viết nhiều con nhé! Thầy còn sống, phải khiêm tốn”. Được Thầy đồng ý, tôi viết bài “Đôi nét về võ sư Chưởng môn Lê Sáng”. Đọc qua, Thầy nói: “Được đấy, viết như vậy là đủ rồi”. Bài viết đó được đăng lần đầu tiên trên Vovinam News, và theo đề nghị của tôi, tên tác giả ghi chung là Ban Nghiên cứu Việt Võ Đạo. Từ bài viết trên, tôi bổ sung, chỉnh sửa dần để trở thành bài “Chưởng môn Lê Sáng – người kế nghiệp xuất sắc của Sáng tổ Nguyễn Lộc” in nơi đầu tập ghi chép này. Tôi ước mong, Hội đồng võ sư Chưởng quản môn phái sẽ sớm có kế hoạch biên soạn tiểu sử Thầy đầy đủ hơn, đàng hoàng hơn đồng thời sưu tập những tác phẩm (thơ, văn) của Thầy để phổ biến trong nội bộ và xuất bản khi có điều kiện.

Về thành phần Hội đồng võ sư Chưởng quản và Hội đồng võ sư Tương trợ hải ngoại mới hình thành, Thầy cho biết đây là những võ sư làm nền ban đầu. Sau này, tùy theo tình hình mà có thể bổ sung để cùng chung vai gánh vác công việc môn phái. Sống và làm việc thì phải biết thời thế. Trong công tác lãnh đạo, Thầy cũng nêu kinh nghiệm: “Song song với việc hướng dẫn, giúp đỡ cấp dưới thực hiện đường lối chung, mình còn phải mang đến cho họ quyền lợi thì họ mới tuân phục. Mình mà cứ khó dễ với cấp dưới mãi mà cũng chẳng mang lại cho người ta lợi lộc gì thì ai mà theo mình!”; hoặc “Là Chưởng môn, Thầy không bao giờ thủ đoạn với ai cả, nhưng Thầy cũng đủ bản lĩnh không cho phép bất cứ ai thủ đoạn với Thầy”.

Sẽ thiếu sót rất lớn nếu không nhắc đến chữ hiếu của Thầy. Còn nhớ hồi đầu thập niên 1990, Thầy có đưa cho tôi xem những bức thư Thầy viết về cho mẹ trong khoảng thời gian xa nhà mà gia đình còn lưu lại. Đọc những câu đại ý “Con chỉ muốn về sớm để được quỳ bên gối mẹ và hầu mẹ…”, tôi rất cảm động. Nhưng đó đâu là lời nói suông. Nhiều vị võ sư rất trân trọng khi nhìn thấy Thầy phụng dưỡng mẹ hằng ngày. Lúc cụ bà bệnh, tôi có đưa một lương y đến xoa bóp, bấm huyệt cho cụ bà. Nhiều lần chứng kiến Thầy gọt từng quả cam, quả táo, bưng từng ly nước cho cụ bà…, lương y đó đã nói với tôi: “Hiếm có người chăm sóc mẹ chu đáo như thầy của anh”.

***

Tuy chúng tôi rất cố gắng chăm sóc Thầy, nhưng cũng không thể được như mong muốn. Dù vậy, anh em cũng được một chút an ủi. Võ sư Trần Đa kể lại: “Tôi thấy các bác sĩ, y tá bệnh viện Nguyễn Tri Phương rất quan tâm chữa trị cho Thầy nên có gửi chút quà mọn để tỏ lòng cám ơn. Tuy nhiên, các cô ý tá không nhận mà còn nói: “Tụi em rất cảm động khi thấy các anh luân phiên nhau vào đây chăm sóc thầy của mình. Trong lúc có một số người có con cái đàng hoàng nhưng họ đưa cha mẹ vào đây rồi phó mặc cho tụi em. Việc làm của các anh rất đáng cho tụi em học hỏi để sau này chăm sóc cha mẹ tốt hơn. Tụi em không dám nhận quà của các anh đâu!”.

Thời gian vẫn lặng lẽ trôi đi, nỗi buồn nào rồi cũng sẽ dần dần nguôi ngoai. Nhưng đối với một môn đồ già như tôi, khoảng thời gian được phụ giúp quý võ sư cấp cao chăm sóc cho Thầy là những kỷ niệm rất khó quên…

Trích từ tập tư liệu Ngọn nến

(tháng 10-2010)

Chụp hình lưu niệm nhân ngày giỗ Thầy