Viết về hạnh phúc và niềm tin

Posted: Tháng Mười 19, 2011 in Bút ký

Được Chưởng môn Lê Sáng khuyến khích, ba võ sư Nguyễn Việt Thông, Cao Văn Cát và Nguyễn Đức Quỳnh Kỳ (1) cùng nhau viết bài “Viết về hạnh phúc và niềm tin” vào tháng 10 năm Mậu Dần (1998) với mục đích ghi lại quảng đời học võ của mình cùng sơ lược dưới góc nhìn của từng người về những bước phát triển của Vovinam từ năm 1955 đến 1974. Nhân giáp năm Chưởng môn Lê Sáng, xin trân trọng giới thiệu vài nội dung trong bài viết vừa nêu.   

Trước năm 1964, số môn sinh tương đối ít, đại đa số đều là những môn đồ “không thể” rời xa Vovinam được vì cái tình Vovinam… nên tình nghĩa Sư Môn rất đậm đà quyến luyến, nhiều lúc còn thân thiết hơn anh em ruột thịt.

Những tôn ty trật tự được tự giác công nhận và thực thi triệt để giữa lớp đàn anh và đàn em. Danh xưng Thầy đối với Sáng tổ Nguyễn Lộc và Chưởng môn Lê Sáng do chúng tôi khởi xướng từ ngày đó.

Tưởng cũng cần trình bày cho rõ ràng nguồn gốc lý do về việc xưng hô của môn phái, mà rất nhiều môn sinh còn bỡ ngỡ, thắc mắc. Bởi ý tưởng siêu việt khác thường nên khi còn tại thế, Sáng tổ đã cho phép các học trò của mình xưng hô huynh đệ với ông.

Lẽ ra chỉ có một số võ sư được may mắn học với Sáng tổ được dùng lối xưng hô ấy. Nhưng sau này, bạn bè, thân quyến của một số võ sư cũng đã bất kể tuổi tác mà lạm dụng. Tuy nhiên, ai cũng hiểu rằng môn sinh Vovinam rất thuần thành, tất cả đều “tôn sư trọng đạo” theo truyền thống nên dù có một vài vị không trọng đạo nhưng vẫn được môn sinh tôn sư giống như các vị sư trọng đạo khác.

Thời đó, chúng tôi rất tôn trọng và hãnh diện về lớp đàn anh cũng như thân mật, nhiệt tình với lớp đàn em. Bởi chúng tôi hiểu rõ giá trị của Vovinam bao gồm cả rèn tâm sửa tánh và luyện thân thép qua những kỹ thuật đòn thế siêu tuyệt của Sàng tổ để lại.

Trong giờ học, cùng lớp với nhau bất kể mới ghép cặp hay mới chuyển lớp – chúng tôi đều dấy lên trong lòng một cảm tình sâu đậm, mật thiết để khi tập thì “nâng nhau như nâng trứng, hứng nhau như hứng hoa”, kỹ lưỡng, nghiêm túc và khi vì mồ hôi, vì sai đòn thế mà làm cho nhau té không đúng cách thì còn đau hơn cả bạn mình và ân hận ra mặt.

Cố võ sư Trần Trọng Bách (Trần Huy Phong), lúc đó là thần tượng của chúng tôi vì tính trượng nghĩa và hết lòng bênh vực, giúp đỡ đàn em và đồng môn. Chúng tôi còn mê anh Bách ở chỗ ra đòn thần tốc, hấp dẫn… Chúng tôi thường nhắm vào lớp anh Bách để làm gương mà luyện tập.

Từ trái: Các võ sư Trần Huy Phong, Trần Văn Bé, Phan Đức Tâm, Lý Phúc Thái, Nguyễn Văn Thông, Dương Viết Hùng, Lê Công Danh, HLV Hồ Tấn Đãi, võ sư Trần Văn Trung, Nguyễn Đúc Quỳnh Kỳ (1973)

Theo tôn chỉ của Sáng tổ Nguyễn Lộc, đòn nào phải học thuần thục, sử dụng hữu hiệu dễ dàng thì mới được học đòn khác. Thế nên có đòn phải dợt đi dợt lại cả 1-2 tháng trời với những lời trách phạt nghiêm khắc.

Tuy vậy, khi đến võ đường Trần Hưng Đạo thì Thầy Chưởng môn Lê Sáng (lúc đó mang danh Võ sư trưởng) cũng “đại xá” mà dễ dãi hơn chút đỉnh. Trong một buổi tập chỉ có hai vấn đề – Thầy ra lệnh rất ngắn gọn và trò hì hục tập luyện cho đến khi có lệnh mới. Nghiêm như vậy, nhưng tính của Chưởng môn đối với học trò đã rất nhiều lần làm chúng tôi rơi lệ. Điển hình là trường hợp sau đây:

Khi thấy võ sư Cao Văn Cát không đi tập suốt cả tuần, Chưởng môn đã tìm đến nhà thăm hỏi. Hóa ra anh Cát bị ốm, nhà lại quá khó khăn về tài chính. Anh Cát kể lại rằng: “Thấy Thầy đến dù đang bệnh nặng tôi cũng giật mình nhổm dậy vì quá ngạc nhiên mừng rỡ lẫn xúc động đủ thứ. Thầy ra hiệu cho tôi nằm yên và hỏi thăm thân mẫu tôi về tình hình nhà cũng như bệnh tật. Trước khi ra về Thầy đã cho tôi 5.000 đồng để “thuốc men cho mau khỏi, còn đi tập lại nhé!”. Thầy nói rất ân cần còn tôi thì bềnh bồng, nín khe trong cảm động. Chính nhờ số tiền đó cộng với tình người của Thầy mà tôi mau chóng khỏi bệnh…”.

Trong môn phái chúng ta, Chưởng môn Lê Sáng là ngọn đuốc sáng khởi phát, đem trọn tinh yếu của Vovinam từ tâm nguyện đến kỹ thuật của Sáng tổ Nguyễn Lộc truyền đạt đến các môn đồ Vovinam trên thế giới.

Từ trái: Nguyễn Đức Quỳnh Kỳ, Trần Văn Vịnh, Cao Văn Cát, Nguyễn Văn Vui, Nguyễn Việt Thông, Nguyễn Bình - khoảng giữa thập niên 1990

Ngay từ đầu năm 1956 (sau khi lớp võ đầu tiên tại miền Nam Việt Nam tại võ đường Aviateur Garros do Sáng tổ trực tiếp huấn luyện vài tháng cuối năm 1955), Chưởng môn Lê Sáng đã được Sáng tổ ủy thác để trực tiếp lèo lái con thuyền Vovinam từ Nguyễn Khắc Nhu (vài tháng) đến tận Tân Định (góc đường Trần Khánh Dư – Trần Khắc Chân, thường gọi là xóm Chùa từ giữa năm 1956 đến tháng 10-1957) rồi về Trần Hưng Đạo cho tới ngày Sáng tổ rời bỏ cõi phàm tục này – năm 1960.

Sau vài năm gián đoạn về thời cuộc, từ đầu năm 1964 đến nay, Chưởng môn Lê Sáng đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho sự sinh tồn và phát triển của Vovinam. Toàn bộ kỹ thuật và lý thuyết võ đạo từ di chỉ của Sáng tổ đã được Chưởng môn Lê Sáng chấn hưng, chỉnh lý, soạn thảo để mang ra giảng huấn, phổ biến (qua sách báo) cho toàn thể môn đồ trong cũng như ngoài nước. Cho đến nay, không có một vị võ sư Vovinam nào còn hoạt động, còn tập luyện mà không do một tay Chưởng môn Lê Sáng trực tiếp đào luyện (thường xuyên hoặc gián đoạn) hay gián tiếp chỉ dạy cả về kỹ thuật bản phái lẫn lý thuyết hành võ.

Có một điều cần nói là hầu như các môn sinh những năm cuối thập niên 1950 từ lớp quần vàng trở lên đều rất ít người đóng võ phí. Chỉ có lớp mới và vài môn sinh khá giả đóng góp đầy đủ. Việc xoay trở để trang trải đủ thứ từ tiền thuê phòng tập, sắm dụng cụ trợ huấn, giao tế… đều do Thầy Chưởng môn (vốn không dư giả) đảm trách với phương tiện là chiếc velo solex cũ rồi lên chiếc vespas cũ hơn và một cuộc sống đạm bạc, giản dị khác thường, dù lúc đó Thầy Chưởng môn là Tổng thư ký Tổng cuộc Quyền thuật miền Nam Việt Nam. Và với nhiệm vụ này, Thầy Chưởng môn đã cấp cho chúng tôi một giấy xác nhận “có đủ khả năng điều khiển một phòng tập luyện võ thuật” hầu tiện việc sinh hoạt. Có thể nói ngay từ những ngày đó, Chưởng môn đã quên mình để lo cho sự hưng thịnh của Vovinam.

Võ sư Quỳnh Kỳ cũng thổ lộ: “Sau một thời gian bận công việc ở xa, măm 1967, tôi tiếp tục tập luyện cũng như hoạt động bằng nghề chuyên môn của mình là viết báo và điện ảnh để phục vụ môn phái với hết khả năng và nhiệt tình. Sát cánh tôi lúc đó là võ sư Lê Công Danh, một người em “tuy hơn tuổi tôi” mà tôi yêu mến hơn ruột thịt.

Nhờ sự kết hợp văn – võ này, mà hai chúng tôi đã đóng góp không ít cho môn phái trong nhiều mặt thuộc về “Tình Vovinam”

Ngày đó, toàn thể môn sinh cấp võ sư và HLV không cứ công tác ở đâu đều có một mối dây liên lạc mật thiết, lúc đầu thì bắt buộc, sau tự giác tham gia một cách rất hào hứng và chân tình. Chúng tôi gặp nhau hàng tuần, đi cắm trại, tham gia những phim do môn phái và bộ môn điện ảnh thực hiện để quảng bá Vovinam, cùng đóng hoặc thay thế diễn viên thực hiện những pha đánh đấm do các hãng phim tư nhân mời, ôn tập đòn thế, hát hò dân ca (do kỹ sư Thanh Hùng hướng dẫn và có sự hợp tác rất nhiệt tình của Thầy Chưởng môn), v.v. Việc quan, hôn, tang, tế chúng tôi cũng triệt để thực hiện như: đi hỏi vợ cho võ sư Ngô Kim Tuyền ở Thị Nghè hoặc thăm viếng, giúp đỡ nhau khi hữu sự, v.v.

Công việc chúng tôi tâm đắc nhất là vận động được võ sư Trần Huy Phong về lo công tác kỹ thuật và huấn luyện của môn phái. Và mời võ sư Nguyễn Văn Thư về điều hành các buổi sinh hoạt, lúc này đổi tên là lớp Đặc huấn (đào tạo, bồi dưỡng các HLV) và vẫn hoạt động vào ngày Chủ nhật hàng tuần”.

 Nhớ lại những ngày được tập luyện trực tiếp với Sáng tổ ở Nguyễn Khắc Nhu, võ sư Việt Thông kể: “Việc tập võ thời Sáng tổ trực tiếp giảng dạy rất “hắc búa”. Người chú trọng nhiều đến luyện thân thép: đứng tấn, đánh tay, đá chân các kiểu vào nhau, nhảy cóc, băm mép tay xuống sàn, vặn dây thừng, và nhất là cách té ngã (ngược, xuôi). Đòn căn bản thì phải luyện cho đến khi nào cả lớp thuần thục, sử dụng nhuần nhuyễn, hữu hiệu, mới dạy sang đòn khác. Tuy vậy, đến giờ ôn đòn, nếu quên hay lạng quạng đánh không được thì tức khắc học đánh lại đòn đó cho đến khi đúng bất kể bao nhiêu buổi.

Trong tập luyện, Sáng tổ còn cho “đánh gốc” (đứng trụ) có nghĩa là các môn sinh trong lớp luân phiên đứng trụ, các môn sinh còn lại luân phiên ra đòn theo khẩu lệnh của võ sư, HLV – thẳng phải, móc trái, đá thẳng phải, v.v – để người đứng trụ phản đòn. Nói chung, không có buổi tập nào mà sau đó cả lớp không ê ẩm, rã rời toàn thân.

Đối với Sáng tổ, không có vấn đề hơi đau là xin nghỉ. Cứ tiếp tục tập dù có sáy cổ, khập khiễng, tự khắc Sáng tổ sẽ thấy vấn đề và ông sẽ chữa trị và cho nghỉ. Cả vài tháng sau, ông vẫn nhớ và thăm hỏi khi có dịp gặp lại.

Về kỷ niệm với Sáng tổ, võ sư Cao Văn Cát hồi tưởng: “Lớp tôi đang tập ở Trần Hưng Đạo (Molin Rouge) thì Thầy Sáng tổ tới. Thầy ân cần thăm hỏi từng môn sinh, đến chỗ tôi, Thầy hỏi: “Em tập ra sao? Có hiểu hết không?, tôi liền mạnh dạn thưa: “Thưa Thầy đòn thẳng tay trái đánh sao khó quá”. Thế là Thầy Sáng tổ liền dạy tôi ngay tức khắc. Tôi đấm thẳng trái và ngã xuống sàn tức thì, dễ dàng và nhanh chóng mà không biết mình ngã lúc nào.

Việc Sáng tổ hướng dẫn đòn thế một cách tận tình và tích cực như vậy, tôi đã thường nghe các anh lớp trên kể bằng sự khâm phục. Tuy nhiên, nay thì tôi được trực tiếp học hỏi. Hết buổi tập, các bạn đến “thăm bệnh” tôi. Vì ai cũng xanh mắt cho là tôi “lãnh đủ” rồi! Theo họ, Thầy Sáng tổ ra đòn rất dữ dội và nhanh, nhưng khi thấy tôi vẫn bình yên thật sự thì các đồng môn và cả tôi đều hết sức kính phục Thầy Sáng tổ và hiểu rằng Vovinam, nếu sử dụng đúng cách thì sẽ không gây nguy hiểm cho đồng môn và kể cả người ngoài, nếu mình muốn, nhưng giải quyết vấn đề thì thật gọn gàng, nhanh chóng.

Đối với Thầy Chưởng môn, thì buổi học thập phần nghiêm túc nhưng không có tâm trạng nơm nớp như thời Sáng tổ. Bởi lẽ chúng tôi được học trong một không khí gia đình, dù vẫn sợ, vẫn lo bị phạt trách, lo đánh không đúng bị Thầy kêu ra đánh mẫu (dĩ nhiên khi ai được “hân hạnh” này vì tội đùa hay giả vờ, thì bảo đảm đau mình vài ngày).

Hồi chúng tôi tập, chưa có môn “đánh tự do” (sau này dùng theo thuật ngữ thể thao là đấu đối kháng), nhưng trong giờ nghỉ hay sau buổi tập mà lớp kế chưa vào thì chúng tôi đem găng bốc ra đấu với nhau để tập phản thế. Vậy mà đôi khi cũng lỡ tay, lúc đó cả hai đều tự động ngưng, rồi xoa xoa, vuốt vuốt, xin lỗi luôn miệng và tiếp tục tập luyện.

Mỗi khi được lệnh đi biểu diễn, chúng tôi đều hân hoan và tự động ôn tập ngày đêm về bài sở trường của mình do Chưởng môn Lê Sáng dạy và cắt đặt từ trước. Những đòn chân thần sầu do lớp quần đỏ đánh. Đòn chân từ 1 đến 4 do võ sư Kỳ đảm trách. Bài vật 1: võ sư Cát – Minh (Mão); Bài vật 2: Tô Cẩm Minh – Liên Quốc; Tứ đấu 1: Quỳnh Kỳ trụ cùng với Lý Phúc Thái (Thái trắng), Đào Văn Năng, Bát; Tứ đấu 2: Cao Văn Cát trụ cùng với Nguyễn Văn Vui, Quan, Cái. Võ sư Bách (Trần Huy Phong) nổi danh ngoài đòn chân là “đòn độc đắc” (móc số 7) và 2 tay số 7. Võ sư Thư sáng tác bài Trói tay đánh đông và dành độc quyền cho võ sư Nguyễn Văn Lễ đứng trụ cùng lớp môn sinh do võ sư Thư dạy. Lúc đó còn ít người nên chúng tôi đều phải phụ trách nhiều tiết mục.

Trước khi biểu diễn, chúng tôi đã được hướng dẫn rất kỹ phong cách biểu diễn. Đau thật cũng không được nhăn nhó, không được đóng kịch, quằn quại bò lê, lúc nào cũng phải đứng cao, hùng dũng, ra đòn thật chuẩn xác và kỹ lưỡng để không làm đau bạn mình. Phải bình tĩnh để thực hiện theo lệnh của võ sư điều khiển. Nghe lệnh “ngưng’ thì phải dừng và quỳ 1 chân xuống tại chỗ. Biểu diễn xong bài của mình là xin phép, rời khỏi địa điểm ra về ngay.

Lớp chúng tôi thường nhắm trước nơi giải khát để hẹn nhau ra đó hầu kiểm điểm nhau về buổi biểu diễn, cùng nhau chung tiền uống nước, ăn phở gánh…

Hồi đó, khi tập mặc quần đùi, cỡi trần với 3 màu quần. Cao đẳng: quần đỏ viền trắng (võ đã ngấm vào máu). Trung đẳng: quần vàng viền đỏ (võ đã ngấm vào da) Sơ đẳng: quần xanh viền vàng. Lúc đi biểu diễn, chúng tôi mặc thêm chiếc áo thun ba lỗ có thêm danh xưng Vovinam màu đỏ sau lưng. Sau khi hồi phục môn phái năm 1964, các môn sinh mới mặc võ phục màu thiên thanh và mang đai.

Cuối năm 1960, do Tynoy – một võ sĩ chuyên nghiệp người Lào dám thách thức hết thảy võ sư Việt Nam (chuyên đánh đài), nên vì danh dự dân tộc, môn phái Vovinam cũng chuẩn bị “tuyển chọn nhân tài phòng lúc hữu sự”. Nên nhớ tôn chỉ của Sáng tổ rất nghiêm: cấm thượng đài với bất cứ lý do gì, trừ trường hợp bảo vệ danh dự môn phái hoặc quốc gia. Trước sự việc trên, một vài võ sư lớp cao đã tập dượt cách thức đánh đài. Võ sư Bách (Trần Huy Phong) lúc đó là ứng cử viên số 1 trong số rất nhiều võ sư, HLV tình nguyện xin đấu. Sau đó, võ sĩ Tynoy xin lỗi và cải chính nên không có vụ việc đó nữa.

Chính vì vụ này mà môn phái chúng ta có một số thế liên hoàn, quyền, chỏ, cước. Đây là tiền thân của nội dung “giao đấu tự do” khi thi thăng đai kể từ năm 1964 về sau. Nhiều thế chiến lược cũng được Chưởng môn Lê Sáng soạn thảo, sáng tạo để đáp ứng nhu cầu và hoàn cảnh lúc đó.

Với trên dưới 40 năm gắn bó cùng môn phái, quả là một thời gian không ít và trong những năm tháng đó, biết bao nhiêu là kỷ niệm vui buồn xảy ra với anh em chúng tôi. Kể làm sao hết, nhớ làm sao xuể. Nhiều đồng môn đã ra đi, xa hẳn môn phái, hoặc vì lìa đời hoặc vì hoàn cảnh. Cái may mắn nhất mà anh em chúng tôi đều cảm nhận là còn được gần Thầy Chưởng môn yêu kính. Đã nhiều lúc vì quá tích cực, chúng tôi đã làm Thầy buồn hoặc ngược lại vì quá nông nổi, thiếu suy nghĩ đã buồn tủi vì bị Thầy trách phạt nên tự ngưng sinh hoạt, hoặc có những cử chỉ, ngôn ngữ hờn giận… Sinh làm kiếp người, ai không phạm lỗi. Khác chăng là vì được học với Thầy nên chúng tôi biết kịp thời sửa chữa lỗi lầm. Chính vì thế, giờ đây chúng tôi vẫn được hưởng những may mắn về tinh thần như đã nói.

Từ trái: các võ sư Nguyễn Văn Hoàng, Trần Đa, Nguyễn Đức Quỳnh Kỳ, Đào Văn Năng, Nguyễn Văn Sen, Nguyễn Văn Hiệp (Tổ đường, 23-3-2011)

Chúng tôi thường cầu mong các thế hệ đàn em chịu khó suy ngẫm về những di huấn của Sáng tổ Nguyễn Lộc, thực hiện được rõ nét biểu tượng “Bàn tay thép (thì phải trui luyện) đặt lên trái tim từ ái (phải tập yêu thương, đùm bọc, bao la, vô điều kiện) như chúng tôi đang cố gắng thực hiện. Chỉ có ngày đêm trui luyện thân thể và yêu thương vô bờ bến, vô điều kiện và hết thảy bằng cái Tâm (lương tâm, lương thiện) thì mới theo đúng con đường Sáng tổ đã chỉ dạy…

Tháng 10 Mậu Dần (1998)

Quỳnh Kỳ (biên tập)

—————————————————————————————————

(1) Võ sư Nguyễn Việt Thông sinh năm 1939, tập Vovinam từ giữa năm 1956 tại nhà riêng của Sáng tổ Nguyễn Lộc trên đường Nguyễn Khắc Nhu. Võ sư Cao Văn Cát sinh năm 1943, học Vovinam ở võ đường Trần Khánh Dư vào khoảng đầu năm 1958; đánh cặp khi tập luyện ở Trần Hưng Đạo và khi biểu diễn với võ sư Trịnh Văn Mão (tức Trịnh Ngọc Minh, sinh năm 1939, mất ngày 30-12-1998, tập Vovinam ở Moulin Rouge từ năm 1958; võ sư Minh từng phụ trách Vovinam các tỉnh miền Trung giai đoạn 1969-1975). Võ sư Nguyễn Đức Quỳnh Kỳ sinh năm 1941, học Vovinam từ khoảng giữa năm 1958.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s